TỪ ĐIỂN

Tra theo từ điển:


LỊCH

Dự báo tình hình sinh vật gây hại cây trồng vụ Hè Thu 2020

Admin Lanh Đa | 162 lần xem | 0 bình luận

I. Cây Lúa

1. Chuột       

Là đối tượng thường xuyên gây hại cho các vụ lúa trong năm và khó phòng trừ. Một số địa phương do địa hình phức tạp, chuột còn lẩn trốn trong vườn cây, bờ bụi nếu không trừ tích cực chuột sẽ chuyển sang gây hại lúa vụ Hè Thu. Nhằm đẩy mạnh công tác diệt chuột, Chi cục Trồng trọt và BVTV đã phát động chiến dịch ra quân diệt chuột vào tháng 5 “Tháng diệt chuột”. Công tác diệt chuột phải luôn được chú trọng và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Do đó, trong vụ Hè Thu cần tiến hành diệt chuột bằng các biện pháp sau:

- Giai đoạn trước khi gieo sạ:

+ Tổ chức phát động chiến dịch “Tháng diệt chuột” tại các địa phương nhằm tuyên truyền phong trào diệt chuột đến với mọi người dân.

+ Triển khai ra quân đào bắt vào thời gian trước gieo sạ ở nơi gò đồi, bờ cao nơi chuột sinh sống.

- Giai đoạn làm đất lần cuối trước khi gieo sạ: Đây là thời điểm diệt chuột có kết quả cao vì ruộng chưa có lúa, chuột thiếu thức ăn. Nên sử dụng biện pháp đánh bả thuốc sinh học (Biorat, bã diệt chuột sinh học), thuốc hoá học đồng loạt và làm ruộng Bẫy cây trồng.

- Giai đoạn lúa đẻ nhánh đến trỗ: Lúa còn nhỏ diệt chuột có hiệu quả hơn lúa lớn. Sử dụng nhiều biện pháp diệt chuột như bẫy hàng rào, bẫy bán nguyệt, dùng đèn soi đuổi bắt, nôm chụp kết hợp với đánh bả bằng thuốc sinh học và hóa học.

Chú ý: - Nghiêm cấm sử dụng các loại thuốc chuột không rõ nguồn gốc.

              - Nghiêm cấm sử dụng điện để trừ chuột dưới mọi hình thức.

2. Rầy nâu và rầy lưng trắng (RN-RLT)

RN-RLT sẽ phát sinh gây hại nặng trong điều kiện thời tiết thuận lợi trong vụ Hè Thu, nếu không được quản lý bằng các biện pháp thích hợp. Chúng gây hại trực tiếp làm nên hiện tượng cháy rầy và gián tiếp truyền các bệnh virus VL-LXL và lùn sọc đen, cả hai đều làm thiệt hại nặng đến năng suất lúa.

  Theo quy luật, rầy lưng trắng sẽ phát sinh gây hại trên ruộng lúa khoảng 30 ngày sau sạ, sau đó mật độ của chúng giảm dần và nhường chỗ cho rầy nâu. Do đó, cần phải có biện pháp quản lý RN-RLT hiệu quả và bền vững ngay từ đầu vụ.

  Để hạn chế tác hại của rầy nâu và rầy lưng trắng, các địa phương cần tích cực ngăn ngừa sự phát sinh của rầy bằng các biện pháp sau:

- Hạn chế gieo sạ các giống nhiễm rầy nâu như: TBR 1, ĐV 108, OM2695-2, HT1, ML48, BĐ 258...

- Vệ sinh đồng ruộng, làm đất kỹ.

- Gieo sạ đúng thời vụ và tập trung.

- Khuyến khích nông dân sạ giống cấp xác nhận trở lên, sạ hàng, sạ thưa  (80 – 100 kg/ha).

- Bón phân N, P, K cân đối hợp lý, nên bón lót vôi và phân chuồng.

- Hạn chế dùng thuốc BVTV, không phun thuốc trừ sâu ăn lá giai đoạn trước 40 ngày sau sạ vì dễ gây hiện tượng bộc phát rầy nâu.

- Thường xuyên theo dõi rầy nâu và rầy lưng trắng vào đèn, hướng di chuyển của chúng để làm cơ sở cho việc dự báo và tổ chức phòng trừ rầy nâu trên địa bàn.

- Khi mật độ rầy nâu trên đồng ruộng phát triển cao kết hợp các yếu tố thời tiết và cây trồng thuận lợi cho rầy nâu phát triển, cần tham khảo ý kiến cơ quan BVTV để quyết định việc phun thuốc. Khi xử lý thuốc trừ rầy nâu cần tuân theo nguyên tắc 4 đúng.

Một số loại thuốc đặc hiệu có hiệu lực trừ rầy cao như: Nên sử dụng một số hoạt chất như: Dinotefuran (Cyo super 200WP, Oshin 20WP,…), Fenobucarb (Jetan 50 EC, Bassa 50EC,…), Pymetrozine (Chess 50WG,…),….

3. Sâu cuốn lá nhỏ

Sâu cuốn lá nhỏ thường phát sinh gây hại lúa giai đoạn đẻ nhánh – trỗ, hại nặng giai đoạn làm đòng. Các ruộng sạ dày, bón nhiều đạm, lá xanh tốt thường hấp thu sâu đến cư trú và gây hại. Đồng thời những ruộng thường phun thuốc sâu, phun sớm làm chết thiên địch cũng làm cho mật độ sâu tăng cao.

Để quản lý có hiệu quả  sâu cuốn lá nhỏ, cần:

- Sạ thưa hợp lý và bón phân cân đối;

- Không phun thuốc BVTV khi chưa cần thiết;

- Áp dụng chương trình IPM ngay từ đầu vụ;

  4. Sâu cắn gié

   Theo quy luật, sâu cắn gié thường phát sinh gây hại lúa Hè Thu ở giai đoạn trỗ-chín. Cần tăng cường công tác theo dõi bướm trưởng thành vào đèn, điều tra theo dõi, dự tính dự báo kịp thời các lứa sâu phát sinh gây hại từ đó đưa ra biện pháp quản lý kịp thời. Một số biện pháp phòng trừ sâu cắn gié như sau:

  - Làm đất kỹ, dọn sạch cỏ bờ.

  - Không để ruộng khô nước khi lúa trỗ.

  - Làm bẫy bả chua ngọt vừa có ý nghĩa phát hiện và dự tính sớm lứa sâu, vừa để diệt trưởng thành. Công thức bả: 400gr đường + 400cc dấm + 100cc rượu + 100cc nước + 5gr thuốc trừ sâu, khuấy đều phun lên bó rơm rạ, cắm quanh bờ ruộng, mỗi ha 30-40 bả.        

- Thực hiện chương trình IPM ngay từ đầu vụ.

5. Sâu đục thân

Trong những vụ Hè Thu gần đây, mức độ gây hại của sâu đục thân có xu hướng tăng ở các huyện trên địa bàn như: Phú Hòa, Đông Hòa, TP Tuy Hòa... Vì vậy, cần tăng cường công tác bẫy đèn, điều tra phát hiện xác định thời điểm bướm ra rộ và mật độ sâu ngoài đồng để có biện pháp quản lý kịp thời và hiệu quả.

* Biện pháp quản lý

- Khi thu hoạch nên cắt sát gốc, cày lật đất  để hạn chế nhộng nằm trong gốc rạ.

- Thời vụ gieo sạ tập trung, đồng loạt.

- Sạ mật độ thấp, không bón nhiều phân đạm.

- Nếu sâu gây hại ở thời kỳ lúa non nên tập trung chăm sóc, bón thêm phân để lúa đẻ nhánh mới và phát triển kịp cho bông hữu hiệu.

-  Ở những vùng thường bị sâu đục thân gây hại nặng, nếu thấy bướm rộ sau 3-5 ngày có thể dùng các loại thuốc trừ sâu dạng hạt để rải hoặc phun.

- Khi đã bị bông bạc thì việc phun hoặc gieo thuốc không có ý nghĩa. Nên tránh phun thuốc tràn lan gây nguy cơ bộc phát nhiều dịch hại nguy hiểm khác.

6. Nhện gié

Trong điều kiện thời tiết nóng và khô ở vụ Hè Thu rất thích hợp cho nhện gié phát triển và gây hại. Ngoài ra, cùng với việc nông dân sử dụng nhiều thuốc trừ sâu ở đầu vụ làm giảm mật số thiên địch trên đồng ruộng, việc gieo sạ quá dày và bón nhiều phân đạm cũng làm tăng sự gây hại của nhện gié. Để phòng trừ nhện gié cần áp dụng các biện pháp:

- Cày ải phơi đất, vệ sinh đồng ruộng, diệt lúa chét là nơi cư trú của nhện gié.

- Sạ thưa hoặc sạ hàng, bón phân cân đối hợp lý.

- Bảo vệ thiên địch trong ruộng lúa, một số loại bọ trĩ ăn thịt, nhện và ong nội ký sinh có khả năng hạn chế mật số nhện gié.

- Giữ nước ruộng đầy đủ vì nhện gié thích hợp điều kiện ruộng khô.

7. Bệnh khô vằn

Vụ Hè Thu, trời nắng nóng và thường có mưa xen kẽ là điều kiện thuận lợi cho bệnh khô vằn, thối thân, thối bẹ phát sinh, lây lan và gây hại nặng. Đặc biệt gây hại nặng trên những diện tích bón nhiều phân đạm, sạ dày, đất bị yếm khí, sử dụng giống ML48, PY2, ĐV108… Bệnh gây hại trên cây lúa từ giai đoạn đẻ nhánh nhưng nặng nhất từ làm đòng đến sau trổ, làm giảm năng suất nếu không phát hiện và phòng trừ kịp thời. Để phòng trừ bệnh cần áp dụng các biện pháp:

- Vệ sinh đồng ruộng dọn sạch tàn dư cây trồng và cỏ dại, làm đất kỹ.

- Gieo sạ đúng thời vụ và tập trung.

- Khuyến khích ND sạ hàng, sạ thưa với lượng giống 80 – 100 kg/ha.

- Bón phân đủ và cân đối N-P-K, nên bón lót phân chuồng, bổ sung phân vi lượng cho cây lúa, bón thêm vôi ở chân ruộng chua phèn.

- Trong điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh, phát triển mạnh, khi bệnh xuất hiện cần sử dụng một số thuốc trừ bệnh để phun phòng trừ như: Validamycin (Validacin 3SL, Vali 5 SL,…), Hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 5 SC,…), Pencycuron (Monceren 250SC, Vicuron 250 SC,…),...

8. Bệnh thối thân (thối gốc),

Bệnh thối thân (thối gốc) cây lúa do vi khuẩn gây ra, thường làm nghẽn mạch, gây héo, sau đó là chết vàng từng chồi lúa. Bệnh lan truyền rất nhanh, nhẹ thì lúa chết từng chòm, nặng có thể chết cả ruộng lúa. Bệnh thường phát sinh gây hại nặng ở các giống đã bị nhiễm như: ĐV108, ML48, VĐ8. Chân ruộng bị phèn, ngập nước, chăm sóc kém thường bị bệnh nặng hơn.

Cần áp dụng một số biện pháp phòng trừ:

  • Bón lót vôi xử lý đất trước khi gieo sạ.
  • Bón phân cân đối không bón dư thừa phân đạm
  • Hạn chế sử dụng giống đã nhiễm bệnh từ vụ trước
  • Dùng thuốc hóa học để phòng trừ như: Kasugamycin (Kasumin, Saipan,…); Bronopol (Totan 200WP, Xantocin 40WP,….); Saisentong (Visen 20SC);…

9. Bệnh thối thân (tiêm hạch), thối bẹ

Bệnh thối thân do nấm đầu tiên bệnh phát sinh ở mặt ngoài bẹ lá gần mặt nước dưới dạng các vết nhỏ không đều màu nâu đen nhạt. Sau đó vết bệnh lớn dần, đồng thời nấm cũng xâm nhập sâu vào phía trong đốt thân. Trời nắng nóng cây bệnh bị héo nhanh và chết. Cây bị bệnh sớm sẽ bị khô nhanh khi chín và dễ bị đổ ngã khi gặp mưa.

Bệnh thối bẹ do nấm gây nên, xuất hiện và gây hại trên bẹ lá đòng vào thời kỳ sắp trổ bông, đặc biệt trên chân ruộng trũng.  Bệnh làm cho bông lúa cũng như hạt lúa bị ngắn lại. Bị bệnh sớm cây lúa có bông trổ không thoát, đồng thời hạt lúa bị lép và biến màu. Bệnh gây hại nặng trong điều kiện ẩm độ, nhiệt độ cao.

* Biện pháp quản lý

- Vệ sinh đồng ruộng kỹ trước khi gieo sạ.

- Kỹ thuật chăm sóc, bón phân, chế độ tưới nước hợp lý.

- Thiết kế hệ thống thoát nước cho khu ruộng trũng.

- Chọn hạt giống khỏe, được thu từ ruộng không bị bệnh để gieo sạ.

- Nên sạ hàng, sạ thưa và không bón thừa đạm.

- Khi phát hiện bệnh có xu hướng phát triển mạnh có thể sử dụng các loại thuốc như: Cyproconazole+Propiconazole (Nevo® 330EC); Propiconazole (Bumper 250 EC,…);.....

10. Bệnh đen lép hạt

Bệnh đen lép hạt phát sinh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ cao, bệnh thường xuất hiện rõ vào giai đoạn chín sữa, nhưng nếu bị bệnh sớm vào giai đoạn khoảng 4 - 5 ngày sau trỗ (trỗ trên 40%) thì mức độ tác hại của bệnh sẽ nặng hơn.       Để phòng trừ bệnh cần áp dụng các biện pháp:

- Vệ sinh đồng ruộng dọn sạch tàn dư cây trồng và cỏ dại, làm đất kỹ.

- Chọn lọc và sử dụng hạt giống khỏe, lấy hạt ở những ruộng không nhiễm bệnh để làm giống. Xử lý hạt giống trước khi gieo sạ để giảm nguồn bệnh.

- Gieo sạ đúng thời vụ và tập trung để tránh trỗ trong điều kiện thời tiết bất lợi.

- Bón phân đủ và cân đối N-P-K, không bón đạm muộn, nên tăng cường bón phân kali sẽ hạn chế bệnh gây hại.

Ngoài ra một số sinh vật gây hại khác như: Ốc bưu vàng, Bọ trĩ,… cũng sẽ phát sinh gây hại cho lúa vụ Hè Thu; chúng sẽ gây hại nặng ở những ruộng sạ dày và bón phân không cân đối. Do đó, cần có chế độ canh tác phù hợp và chăm sóc tốt, hạn chế sử dụng thuốc BVTV, chỉ sử dụng khi thật cần thiết nhằm tránh bộc phát sinh vật hại.

II. Cây rau, đậu

Điều kiện thời tiết vụ Hè Thu phù hợp cho các loại sâu bệnh hại phát triển như: Sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, bọ nhảy, bọ trĩ,… trên các loại rau ăn lá và sâu vẽ bùa, dòi đục lá,… trên cây họ đậu. Ngoài ra còn có các bệnh nguy hiểm như: sương mai, thán thư, đốm lá, thối thân, thối gốc,… cũng gây hại phổ biến.

Cần hướng dẫn ND thực hiện giải pháp IPM để bảo vệ cây trồng, khuyến khích ND sử dụng các thuốc BVTV trong danh mục sử dụng cho cây rau, chú trọng dùng thuốc trừ sâu sinh học: Bacillus thuringiensis (Xentari 35WG, Map-Biti WP 50000 IU/mg,….), Abamectin (Tập Kỳ, Vibamec,…). Tuân thủ thời gian cách ly để bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. ND trồng rau cần thực hiện việc trồng rau theo tiêu chuẩn VietGAP để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

III. Cây công nghiệp

1. Cây mía: Sâu đục thân, xén tóc, đốm vòng, đốm vàng, khô lá… tiếp tục phát sinh gây hại rải rác.

2. Cây sắn: Rệp sáp bột hồng, bệnh khảm lá sắn xuất hiện và gây hại trên sắn niên vụ 2020 – 2021, tập trung điều tra quản lý và tiêu hủy kịp thời tránh lây lan ra diện rộng trên. Chú ý theo dõi nhện đỏ, bệnh chổi rồng và tăng cường điều tra phát hiện để có biện pháp phòng trừ kịp thời. 

3. Cây tiêu: Bệnh chết nhanh Phytophthora sp., hoặc bị vàng lá hàng loạt do bệnh chết chậm Pythium sp và Fusarium sp) tiếp tục phát sinh gây hại. Để phòng chống bệnh ngay khi mới trồng, đảm bảo sản xuất hồ tiêu an toàn và bền vững, cần tập trung hướng dẫn người dân xử lý nguồn bệnh theo “Quy trình Kỹ thuật quản lý bệnh chết nhanh, chết chậm hại hồ tiêu” của Cục Bảo vệ thực vật ban hành ngày 08 tháng 8 năm 2016.

 Để phòng trừ các đối tượng sinh vật gây hại trên một cách có hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại, đề nghị các cơ quan chức năng và các địa phương cần tổ chức thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, theo dõi diễn biến của sinh vật gây hại và thời tiết để áp dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp. Khuyến cáo nông dân áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) để ngăn ngừa dịch hại ngay từ đầu vụ./.

Gửi bình luận

Vui lòng đợi ...