TỪ ĐIỂN

Tra theo từ điển:


LỊCH

QUI TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA TRÊN ĐẤT NHIỄM MẶN TẠI PHÚ YÊN

Admin | 5018 lần xem | 1 Đính kèm | 0 bình luận

 

QUI TRÌNH KỸ THUẬT

CANH TÁC LÚA TRÊN ĐẤT NHIỄM MẶN TẠI PHÚ YÊN

 
   

  (Qui trình đã được Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học cấp tỉnh thông qua ngày 31 tháng 12 năm 2015, thuộc đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa chịu mặn phục vụ sản xuất cho vùng lúa chịu mặn tỉnh Phú Yên thích ứng biến đổi khí hậu” do Chi cục TT- BVTV Phú Yên chủ trì)                  

i- CHỌN GIỐNG

Chọn những giống lúa có thể sản xuất trên vùng dất nhiễm mặn ≥6‰ như: GSR38, GSR50, GSR66, GSR90, GSR 96 và một số giống được công nhận khác. Tùy theo điều kiện thực tế ở địa phương để chọn giống cho phù hợp, ở những địa phương không chủ động nước nên chọn những giống ngắn ngày (90-105 ngày): GSR 66, GSR 96, GSR 90…  Những nơi chủ động nước tưới có thể chọn giống trung ngày (106-120 ngày) như: GSR 38, GSR 50, H11…

Yêu cầu chất lượng hạt giống tốt tương đương cấp xác nhận 1 hay xác nhận 2. Phải chọn giống từ những ruộng lúa tốt, đồng đều, hạt không bị sâu bệnh hoặc mua  từ các cơ sở kinh doanh giống có uy tín.  

II- LÀM ĐẤT

Đất nhiễm mặn nên cày sâu 30 – 35cm để thuận lợi cho bộ rễ lúa phát triển và hút dinh dưỡng dễ dàng hơn. Sau khi cày, tiến hành đưa nước vào ruộng để bừa trục và để lắng qua một đêm. Làm đất kỹ bằng phẳng, bón lót trước bừa trục lần cuối, đánh rãnh, xẻ mương và không được để đọng nước trước khi gieo sạ.

Đối với vùng đất mặn tiềm tàng: Không cày lật đất và nên xới xáo đất nhiều lần để cắt đứt mạch mao dẫn, hạn chế sự bốc hơi nước mang theo muối từ dưới lên bề mặt ruộng.

III- NGÂM Ủ GIỐNG

Hầu hết các giống lúa mới đều không có tính miên trạng, song cũng phải ngâm ủ đúng cách mới đạt tỷ lệ nảy mầm và chất lượng mầm tốt. Thời gian ngâm giống từ 12-15 giờ. Sau đó tiến hành ủ giống khoảng 24 giờ, cách khoảng 6-8 giờ rửa chua một lần để giống nảy mầm tốt. Trong quá trình ủ giống nếu thường xuyên đảo đều cho hạt lúa đủ oxy thì rễ sẽ ra đều và khoẻ hơn.

IV- GIEO SẠ

Tuỳ theo cách sạ mà lượng giống và độ dài rễ mầm khác nhau. Mật độ khuyến cáo trên đất nhiễm mặn là 140-160kg/ha (7-8 kg/sào 500 m2) và có thể sạ bằng 2 cách:

- Sạ lan bằng tay: Rễ mầm dài 3-5 mm;

- Sạ bằng công cụ sạ hàng: Rễ mầm dài 1-2 mm.  

V. tƯỚI TIÊU

Bố trí rửa mặn ngay từ đầu mùa mưa đến khi gieo sạ lúa, bảo đảm độ mặn nước ruộng giảm thấp mới tiến hành gieo sạ. Nếu sử dụng giống chịu mặn cao thì các ruộng không có điều kiện rửa mặn vẫn có thể gieo sạ được.

Đối với đất bị nhiễm mặn tiềm tàng:

- Sau khi tiến hành gieo cấy cần giữ mực nước ổn định thường xuyên trên ruộng, tránh để ruộng khô hạn sẽ bị hiện tượng mao dẫn mặn lên mặt đất, làm tăng độ mặn ruộng lúa.

- Nếu có mưa nhiều, nên tận dụng nước mưa để tháo rửa mặn, giúp lúa sinh trưởng và phát triển tốt, đồng thời hạn chế thiệt hại khi lúa gặp nắng hạn.

Đối với đất bị nhiễm mặn do triều cường:

  • Cần xây dựng hệ thống thau chua rửa mặn gồm kênh thoát nước nhằm rửa mặn ra khỏi ruộng và kênh tưới nước ngọt để làm ngọt hóa đất ruộng.
  • Tác dụng rửa mặn cũng phụ thuộc vào chất lượng nước tưới. Nếu nước chứa hàm lượng muối cao thì không nên dùng để thau chua, rửa mặn.

VI. QUY TRÌNH BÓN PHÂN CHO LÚA TRÊN ĐẤT NHIỄM MẶN

6.1. Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa

6.1.1 Giai đoạn mạ: Từ khi sạ cho đến bắt đầu đẻ nhánh, kéo dài khoảng 7-10 ngày. Trong giai đoạn này cây lúa tự dưỡng bằng thức ăn có trong hạt.

6.1.2. Giai đoạn đẻ nhánh: Từ lúc bắt đầu đẻ nhánh đến khi phân hoá đòng (tượng khối sơ khởi), kéo dài từ 25-30 ngày. Cây dùng thức ăn từ đất và không khí, đây là giai đoạn quyết định số dảnh/m2.

6.1.3. Giai đoạn ôm đòng: Từ lúc phân hoá đòng đến lúc trỗ, kéo dài khoảng 20-25 ngày. Đây là giai đoạn rất quan trọng vì nó quyết định số bông/m2 và số hạt chắc/bông.

6.1.4. Giai đoạn trỗ-chín: Từ lúc trổ đến khi thu hoạch, kéo dài khoảng 28-30 ngày. Giai đoạn này dễ bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh và các yếu tố thời tiết.

6.2. Kỹ thuật bón phân hạn chế tác hại của mặn

Cây lúa chịu được mặn trong giai đoạn nảy mầm, mẫn cảm trong giai đoạn cây non (khoảng 1-2 lá), có khả năng chịu mặn trong giai đoạn đẻ nhánh, nhưng lại mẫn cảm trong thời kỳ trổ bông.

Do vậy, áp dụng các biện pháp canh tác, trong đó có việc sử dụng phân bón phải có vai trò điều chỉnh môi trường đất để cho độ mặn trong dung dịch đất phải luôn ở dưới ngưỡng gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Một số biện pháp kỹ thuật gồm:

- Dùng phân bón có kali nhằm làm tăng hàm lượng K+ trong cây từ đó hạn chế sự thu hút Na+ vào cây, hạn chế độc do Na+. Cần hạn chế sử dụng phân bón clorua kali (KCl).

- Bón một số dạng phân có chứa Ca2+ như CaO, CaCO3, CaSO4, Ca(NO3)2 cho lúa có khả năng tăng tích lũy nồng độ proline cao để điều chỉnh thẩm thấu, gia tăng khả năng hút nước của cây, hạn chế việc hấp thu và vận chuyển Na+, Cl- từ rễ vào thân cây, do đó gia tăng khả năng chống chịu mặn.

- Cần ưu tiên sử dụng phân đạm gốc amon ( NH4+) để hạn chế độc Na+ và dạng phân lân dễ tiêu như superlân, lân trong DAP, MAP, MKP... để cung cấp lân cho cây, hạn chế sự thu hút các ion Cl- quá nhiều trong cây.

- Sử dụng phân bón chứa silic có khả năng thúc đẩy quá trình quang hợp, gia tăng tỷ lệ chọn lọc của K +/Na+ và giảm lượng hút Na+ của cây trồng.

- Phun phân bón lá vào các giai đoạn sinh trưởng khác nhau cũng giúp cho cây lúa đủ sức vượt qua được tác hại do mặn gây ra khi bộ rễ không hút đủ dinh dưỡng, đồng thời cũng làm tăng khả năng chống chịu điều kiện bất thuận như nóng, hạn (gồm cả hạn sinh lý) do mặn gây ra.

Lượng phân cần dùng cho 1 ha:

Phân bón

Thành phần

Lượng phân  (kg,lít) 

Phân chuồng

 

10.000  

Super lân  

16% P2O5 + 20% CaO

320  

Urea 

46%N

200  

KNO3

13% N + 46% K

140  

Phân bón lá Ca2Si

CaO: 20% + SiO2: 5%

1  

 

 

* Quy trình bón phân (kg/ ha)

Thời kỳ bón/

Loại phân

Giống ngắn ngày

   (90-105  ngày)

Giống  trung ngày

 (106-120 ngày)

Bón lót

- Phân chuồng 

- Phân lân

0 - 1 ngày trước sạ

- 10.000

-  320

0 -1 ngày trước sạ

- 10.000

-  320

Bón thúc lần 1

- Phân Urea

- Phân KNO3

7 -10 ngày sau sạ

-    80

-    70

10 -12 ngày sau sạ

-    80

-    70

Bón thúc lần 2

- Phân Urea

20-22 ngày sau sạ

-   80

23- 25 ngày sau sạ

-     80

Phun lần 1

- Ca2Si

30-35 ngày sau sạ

- 500 ml

35-40 ngày sau sạ

- 500 ml

Bón thúc lần 3

- Phân Urea

- Phân KNO3

40-45 ngày sau sạ

- 40

- 70

55-60 ngày sau sạ

-  40

-  70

Phun lần 2

- Ca2Si

55-60 ngày sau sạ

- 500 ml

60-65 ngày sau sạ

- 500 ml

VII- QUẢN LÝ CỎ DẠI TRÊN RUỘNG LÚA

Các biện pháp trừ cỏ phổ biến thường được áp dụng:

- Biện pháp canh tác: Giữ mực nước ruộng cao để cỏ dại không phát triển, cày ải hoặc cày dầm kỹ.

- Biện pháp cơ giới: Nhổ cỏ bằng tay, bừa cỏ, cắt bông cỏ...

- Biện pháp hoá học: Phun thuốc trừ cỏ. Thuốc trừ cỏ được chia thành các nhóm:

  • Tiền nảy mầm: Phun trước khi cỏ mọc (1 - 3 ngày sau khi sạ) như:  Sofit, Butan, Venus, Map-famix…    
  • Hậu nảy mầm sớm: Phun khi cỏ được 2 lá trở lại Butanil, Star, Sirius..
  • Hậu nảy mầm muộn: Phun khi cỏ trên 2 lá như Nominee, Pyanchor...

VIII- PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI LÚA

A. Một số sâu hại chính

1. Sâu năn: Orseolia oryzae Wood –Mason

1.1. Triệu chứng gây hại

Cây bị gây hại thì gốc thân hơi cứng, chiều ngang thân phình to dần theo tuổi sau, lá non nhất bị biến dạng tạo thành ống hành màu trắng ngà, phía ngọn ống hành màu xanh. Dảnh lúa bị hại không thể tạo bông và đẻ nhánh nhiều.  

1.2. Đặc điểm – hình thái

Trưởng thành có bụng màu đỏ. Muỗi cái có thể sống 2 – 5 ngày và đẻ 100 – 200 trứng.Trứng hình bầu dục được đẻ thành khóm 3 – 4 cái trên phiến lá. Khi mới đẻ có màu trắng sữa, sắp nở có màu hồng tươi.

  Sâu non mới nở ra nhờ nước giọt sương bò dần xuống chui vào đọt non và ăn đỉnh sinh trưởng của cây lúa. Sâu non đẫy sức hóa nhộng ở ngang trong ống hành. Trưởng thành nở ra để lại vỏ nhộng màu trắng dính ở ngoài ống hành.

1.3. Biện pháp phòng trừ

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM.

2. Bọ trĩ: Baliothrips biformis

2.1. Triệu chứng – tác hại

Lá lúa non bị hại thường có nhiều chấm nhỏ màu trắng. Khi bị nặng, chóp lá bị khô vàng và uốn xoăn lại, dần dần khô cả lá.  

Do bị chích hút nhựa, cây lúa sinh trưởng còi cọc, khô héo. Hoa lúa bị hại không thụ phấn được làm cho hạt bị lép, năng suất giảm.

2.2. Đặc điểm – hình thái

Trưởng thành có cơ thể rất nhỏ như mũi kim, có cánh màu nâu đen. Hoạt động mạnh vào những ngày râm mát. Trời nắng thường ẩn nấu vào noãn hay chỗ lá bị xoăn.

Trứng nhỏ, hình thon dài, màu trắng sữa, gần nở màu vàng nhạt. Trứng phần lớn được đẻ ở lá noãn. Bọ trĩ non mới nở sống tập trung và gây hại ở lá noãn, hình dáng giống trưởng thành nhưng không có cánh, màu trắng vàng.

2.3. Biện pháp phòng trừ

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp.

3. Rầy nâu: Nilaparvata lugens stal

3.1. Triệu chứng tác hại

 Rầy chích hút bẹ lúa làm cây bị vàng dần từ gốc lên phiến lá. Mật độ cao, rầy chích hút làm lá lúa hết nhựa và chết khô từng chòm trên ruộng (gọi là cháy rầy).

 Ruộng bị rầy gây hại làm cho lúa kém phát triển, hạt lửng, nhiều khi không cho thu hoạch. Rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh virus  cho lúa.

3.2. Đặc điểm - hình thái

Rầy trưởng thành có hai loại cánh dài và cánh ngắn, thích ánh sáng đèn. Có màu nâu tối, sống tập trung ở dưới thân lúa.  

Rầy non lưng màu nâu đậm, bụng trắng sữa, thường sống ở gốc lúa cách mặt nước 5 – 10 cm. Khi bị khua động thường nhảy xuống nước, sau đó lại bò lên.

Trứng hình bầu dục hơi cong, mới đẻ màu trắng sữa, sắp nở màu nâu vàng phía đỉnh có một điểm đỏ. Trứng được đẻ thành từng ổ ở bẹ lúa phía dưới gốc.

Rầy thường gây hại nặng vào thời kỳ lúa làm đòng đến trỗ bông làm cho lúa không trỗ bông được hoặc cháy khô.

3.3. Biện pháp phòng trừ

 Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM.

4. Sâu cuốn lá nhỏ: Cnaphalocrocis medinalis guenee

4.1. Triệu chứng – tác hại

Sâu non nhả tơ cuốn dọc lá lúa. Sâu nằm trong bao lá gặm chất xanh để lại biểu bì tạo thành những vệt trắng kéo dài dọc theo lá.

Sâu làm giảm khả năng quang hợp của lá (nhất là lá đòng) nên có thể làm giảm năng suất lúa.

4.2. Đặc điểm – hình thái

- Trưởng thành màu vàng nâu óng ánh. Trên cánh trước có hai đường vân ngang từ mép trước ra mép sau màu đen. Giữa hai vân dài có một vân ngắn. Trưởng thành ngày đậu giữa các khóm lá. Khi bị động bay sát mặt lúa từng quãng ngắn 1 – 2 m, thích ánh sáng đèn.

- Trứng hình bầu dục, màu vàng nhạt, được đẻ rải rác trên mặt lá lúa.

- Sâu non màu xanh lá mạ, đẫy sức màu vàng nhạt, khi bị động thì thụt lùi nhanh và nhả tơ rời khỏi bao lá. Sâu non phá suốt thời kỳ sinh trưởng của lúa, nặng nhất ở thời kỳ đẻ rộ đến trổ bông. Nhộng màu nâu, nằm trong bẹ lá, có khi ngay trong bao lá.

4.3. Biện pháp phòng trừ

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM.

5. Sâu đục thân hai chấm: Tryporyza incertulas walker

5.1. Triệu chứng- tác hại

Thời kỳ mạ-đẻ nhánh sâu đục vào thân cây làm cho dảnh lúa bị héo. Thời kỳ  đòng-trổ: Sâu xâm nhập vào ống rạ cắn đứt mạch dẫn làm bông lúa bị bạc trắng.

5.2. Đặc điểm hình thái

Ban ngày bướm ẩn nấp trong đám lá rậm rạp gần mặt nước, hoạt động mạnh vào ban đêm và  ưa ánh sáng đèn. Bướm đực màu nâu vàng, bướm cái màu vàng nhạt, giữa mỗi cánh có một chấm đen rõ. Ở cuối bụng con cái có một chùm lông màu vàng nhạt dùng để phủ lên trứng sau khi đẻ. Bướm cái đẻ mỗi đêm một ổ trứng, mỗi bướm cái có thể đẻ 3 - 6 ổ trứng.

Trứng hình bầu dục, nhỏ, màu trắng được đẻ thành từng ổ to bằng hạt đậu. Mỗi ổ trứng trung bình có từ 50 – 60 trứng.  

Sâu non màu trắng sữa, đầu màu nâu nhạt, mới nở màu đen, di chuyển bằng nhả tơ hoặc bò trực tiếp xuống nách lá rồi đục vào bẹ lá.  Nhộng màu nâu vàng nằm ở đoạn ống rạ gần gốc.

5.3. Biện pháp phòng trừ

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM.

6. Sâu keo: Spodoptera mauritia

6.1. Triệu chứng – tác hại

Sâu keo cắn phá để lại các vết trắng dài và làm khuyết lá. Khi mật độ cao, sâu ăn trụi từng vạt hay cả ruộng, làm hư ruộng lúa.

6.2. Đặc điểm – hình thái

- Trưởng thành màu nâu đen, trên cánh có một vết xám chạy chéo sát hai đốm tròn trắng, hoạt động chủ yếu vào ban đêm, ban ngày ẩn nấp ở bụi cây cỏ rậm rạp,       thích mùi chua ngọt.

- Trứng hình cầu hơi dẹt, được đẻ thành từng ổ nằm rải rác trên lá lúa, có lông mao bao phủ.   

- Sâu non màu xanh xám, trên lưng có nhiều sọc, hai bên sườn có chuỗi vân đen hình bán nguyệt, vân đầu hình tam giác. Sâu non phá mạnh vào ban đêm, ngày thường ẩn nấp ở gốc lúa.   

- Nhộng màu nâu đỏ, đốt bụng thứ 2 – 7 về phía lưng có nhiều chấm lõm, cuối bụng có gai móc câu lớn. Nhộng nằm ngay ở ruộng lúa hoặc bờ cỏ.

6.3. Biện pháp phòng trừ

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp.

 

7. Sâu phao: Nymphula depunctalis

7.1. Triệu chứng – tác hại

Sâu non mới nở gặm mặt dưới lá tạo thành các vết sọc trắng trên lá, nhả tơ cuốn lá lại thành ống rồi cắn đứt phần cuối cho ống rời ra thành phao. Sâu di chuyên sang cây khác nhờ phao nên nếu ruộng ngập nước cây lúa bị hại nhiều.

7.2. Đặc điểm – hình thái

- Trưởng thành màu trắng bóng, cánh trước có nhiều chấm nhỏ, cánh giữa có 2 chấm màu nâu to, ưa ánh sáng đèn, khi bị động bay từng đoạn ngắn sát mặt đất. Mỗi con cái có thể đẻ 50 – 70 trứng.

- Trứng hình tròn, hơi dẹp màu vàng lợt, được đẻ đơn độc hoặc thành từng hàng 5 -10 trứng trên bẹ hoặc phiến lá gần mặt nước.

- Sâu non mới nở có màu trắng sữa, chuyển dần sang màu xanh. Khi sâu non đẫy sức, nhả tơ bít 2 đầu phao và dán chặt ống phao vào gốc lúa để hóa nhộng.

- Nhộng màu nâu vàng xung quanh được bọc bằng lớp tơ, ngoài cùng là ống phao.

7.3. Biện pháp phòng trừ

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp.

B. Một số bệnh hại chính  

1. Bệnh đạo ôn - Pyricularia oryzae

1.1. Triệu chứng gây hại

  Bệnh hại rõ nhất trên lá, cổ bông, cổ lá và đốt thân.

  - Trên lá lúa: Vết bệnh có hình thoi rộng ở phần giữa, nhọn ở 2 đầu. Vết bệnh có màu xám tro, xung quanh nâu đậm, tiếp giáp giữa mô khoẻ có màu nâu nhạt. Khi bệnh nặng các vết bệnh nối liền nhau làm cho lá bị cháy.

  - Trên đốt thân: Các đốt thân gần gốc bị mục ra làm cho gốc bị gãy đổ.

  - Cổ bông: Vết bệnh ban đầu là chấm nhỏ màu đen, về sau lớn dần bao quanh cổ bông làm bông lúa trắng hoặc lép lửng.

1.2. Đặc điểm lây lan và phát triển

 Nhiệt độ không khí 20 – 30 0C và ẩm độ  trên 92% thích hợp cho bào tử nấm hình thành và nảy mầm. Ở những vùng nhiệt độ ngày đêm chênh lệch, sương mù ... bệnh sẽ phát sinh nặng. Bệnh thường gây hại lúa trên đất giàu dinh dưỡng, bón nhiều phân đạm.  

1.3. Biện pháp phòng trừ

  - Chọn giống kháng hoặc giống ít nhiễm.

  - Vệ sinh đồng ruộng, đốt tàn dư sau khi thu hoạch, cày vùi.  

  - Gieo đúng thời vụ, mật độ hợp lý, bón phân cân đối.

  - Các loại thuốc thường dùng:  Filia, Beam, Fujione, Ninja, Flash...

2. Bệnh khô vằn - Rhizoctonia solani

2.1. Triệu chứng

  Bệnh chủ yếu gây hại lá và bẹ lá lúa. Vết bệnh có màu lục tối hơi ướt, hình bầu dục, sau đó lan rộng ra và liên kết lại tạo thành những đám vằn vện không có hình thù nhất định, bên ngoài viền có màu nâu, bên trong có màu xám xanh hoặc xám vàng.  

Phần trên vết bệnh mọc những sợi nấm màu trắng, sau đó xuất hiện nhiều khuẩn hạch còn non có màu trắng, về già có màu nâu vàng.

2.2. Đặc điểm lây lan và phát triển

  Hạch nấm tồn tại trong đất và tàn dư cây trồng. Bệnh phát sinh, phát triển trong điều kiện nhiệt độ và ẩm đố cao. Ở những ruộng lúa gieo sạ dày, thiếu ánh sáng, không thoát nước, bón phân không cân đối NP K thường bị bệnh nặng.    

2.3. Biện pháp phòng trừ

  - Thu dọn tàn dư  sau khi thu hoạch. Cày bừa, lật đất để vùi hạch nấm. Sạ  với mật độ thích hợp. Bón phân cân đối, không bón thừa N. Không rút  nước khi ruộng bị bệnh

  - Dùng thuốc hoá học: Validacin, Anvil, Benlate C, Copper B.

3. Bệnh tiêm hạch (thối thân): Sclerotium oryzae

3.1. Triệu chứng

 Bệnh phát sinh ở mặt ngoài bẹ lá gần mặt nước, vết nhỏ không đều màu nâu đen nhạt. Vết bệnh lan dần toàn bẹ lá làm cho phiến lá vàng và héo, bẹ lá bị thối từng phần hoặc toàn bộ.

Thân cây lúa bệnh thối mềm và rỗng, phía trong có những hạch nấm nhỏ, tròn, màu đen phân bố thành hàng dọc tương đối đều đặn. Bộ rễ lúa có màu đen và thối. Cây bị bệnh sớm sẽ bị khô nhanh khi chín và dễ bị đổ ngã khi gặp mưa.

3.2. Điều kiện lây lan và phát triển

Nấm bệnh xâm nhập vào cây lúa ở vị trí phía trên sát mặt nước. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ruộng nhiều nước, nước tù đọng và yếm khí.  

Bệnh chủ yếu gây hại bẹ và thân cây ở bất kỳ giai đoạn nào của cây lúa và gây hại nặng nhất vào giai đoạn đòng – trổ.

Sự phát sinh phát triển của bệnh phụ thuộc vào chế độ phân bón, mật độ gieo sạ. Ruộng bón nhiều phân đạm, gieo quá dày bệnh gây hại nặng.

3.3. Phòng trừ

  • Vệ sinh đồng ruộng. Đốt rơm rạ sau thu họach. Cày ải, phơi đất, bón vôi.
  • Chọn giống chống chịu bệnh.
  • Dùng giống lúa cứng cây, ít đổ ngã. Sạ thưa, bón phân cân đối.

4. Bệnh lùn xoắn lá

4.1. Triệu chứng

   Cây lùn nhiều ít tuỳ theo thời điểm nhiễm bệnh, nếu nhiễm sớm cây lúa thấp hơn một nửa. Lá lúa ngắn, dày, xanh đậm, xoắn vặn hoặc nhăn nheo, rách bìa, có nhiều đốm nâu nhỏ. Gân lá bị sưng từng đọan, có thể biến màu. Thân dày, cứng thường đâm chồi và rễ ở những đốt trên. Bông bị nghẹn, xoắn vặn, hạt có nhiều đốm nâu, lép lửng. Cây lúa trỗ muộn có khi đến 20 ngày.

 4.2. Đặc điểm lây lan và phát triển

  Môi giới truyền bệnh là rầy nâu. Nhiệt độ thích hợp truyền bệnh: 25 - 260C. Thời gian ủ bệnh 16 – 32 ngày. Bệnh gây hại nặng trong vụ Hè Thu, trên những ruộng bón nhiều đạm và không cân đối. Lúa sạ bệnh nặng hơn lúa cấy.

4.3. Biện pháp phòng trừ

  - Luân canh, gieo cấy đúng thời vụ, mật độ vừa phải, bón phân cân đối    - Dùng thuốc trừ rầy: Bassa, Applaud, Jetan…

5. Bệnh lem lép hại

5.1. Nguyên nhân

- Điều kiện thời tiết khí hậu không thuận lợi cho cây lúa trỗ bông phơi màu.

- Yếu tố sinh lý tự nhiên của cây lúa.

- Một số loại nấm cộng sinh (Alternaria spp, Curvularia spp, Epicoccum spp, Fusarium spp) và vi khuẩn (Xanthomonas oryzae) gây hại trên cây lúa.

5.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh

Bệnh thường gây hại trong nhiệt độ cao, ruộng bón nhiều phân đạm và bón thúc