TỪ ĐIỂN

Tra theo từ điển:


LỊCH

QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP CÂY ĐẬU COVE

30/11/2017 | Cây rau
Phòng BVTV | 3646 lần xem | 0 bình luận

I. KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẬU COVE

1. Giới thiệu

Đậu cove (đậu đũa) có nguồn gốc từ Trung Mỹ và được trồng cách nay hơn 600 năm. Trái non chứa khoảng 2,5% đạm, 0,2% chất béo, 7% chất đường bột và đặc biệt nhiều vitamin A và C và chất khoáng, trái có thể dùng ăn tươi, đóng hộp và đông lạnh. Ở các nước Châu Á như Ấn Độ, Miến Điện, Nepal, Sri-Lanka, Bangladesh… hạtt đậu cove khô được sử dụng trong các bữa ăn kiêng. Đậu cove là một trong những loại hoa màu thích nghi trong hệ thống luân canh với lúa và là loại đậu rau quan trọng bậc nhất vì phân bố rộng khắp, sản lượng tương đối lớn và có khả năng là nguồn thu nhập khá cao cho các nông hộ.

2. Đặc tính sinh học

Đậu cove là cây hằng năm, thân thảo, rễ chính mọc sâu nên cây có khả năng chịu hạn tốt, rễ phụ có nhiều nốt sần chủ yếu tập trung ở độ sâu khoảng 20 cm. Thân có 2 dạng: Thân sinh trưởng hữu hạn và vô hạn. Lá kép có 3 lá phụ với cuốn dài, mặt lá rất ít lông tơ. Chùm hoa mọc ở nách lá trung bình có từ 2 - 8 hoa.

Sau khi trồng 35 - 40 ngày đã có hoa nở, hoa lưỡng tính tự thụ phấn khoảng 95% nên việc để giống rất dễ dàng. Trái đậu ăn tươi thu hoạch từ 10 - 13 ngày sau khi hoa nở. Hột đậu to, trọng lượng 1.000 hột 250 - 450g.

Đậu cove là cây trồng chịu ấm nên canh tác được trong điều kiện ấm áp của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, đậu không chịu được giá rét.

3. Giống

Phân biệt theo dạng hình của cây có 2 loại:

* Đậu cove lùn (sinh trưởng hữu hạn): Cây cao 50 - 70 cm, trái ngắn 30 - 35 cm, thịt trái chắc, ăn ngon, sai trái, thu hoạch tập trung. Đậu lùn thu ít lứa, thời gian sinh trưởng ngắn 70 - 75 ngày, năng suất thấp hơn đậu leo.

* Đậu cove leo (sinh trưởng vô hạn): Trái dài 40 - 70 cm, màu trái thay đổi từ xanh nhạt (giống hạt trắng) đến xanh rất đậm (giống hạt đen). Có nhiều giống như giống đậu hạt trắng, hạt đỏ, hạt trắng đỏ, hạt đen và hạt trắng đen.

Hiện có nhiều giống đậu lai F1 được nhập khẩu từ Đài Loan, Trung Quốc cho năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng như các giống của Viện Nghiên cứu Rau quả chọn tạo,…Các giống quả ngắn hạt mau, thịt quả chắc, ăn ngon, sai quả. Các giống quả dài hạt thưa, thịt quả xốp, ăn nhạt, lóng dài…

4. Thời vụ trồng (dương lịch)

 Đậu cove trồng quanh năm nhờ có nhiều giống.

 Vụ Đông Xuân gieo tháng 11 - 12

 Vụ Xuân Hè gieo tháng 2 - 3

 Vụ Hè Thu gieo tháng 5 - 6

 Vụ Thu Đông gieo tháng 8 - 9

5. Trồng cây (gieo hạt)

5.1. Chọn đất trồng

+ Chọn đất thịt nhẹ hoặc đất cát pha.

+ Đất bãi phù sa ven sông để trồng là tốt nhất

Làm đất và lên luống

-  Làm tơi đất:

+ Dùng bừa, máy phay, cào cuốc... làm đất nhỏ, vụn, tơi xốp

+ Làm đất nhỏ 1- 5 cm ở trên mặt luống

Chú ý: Lên luống tạo cho lớp đất trên cùng nhỏ hơn ở lớp đất dưới

Không nên làm đất nhỏ quá sẽ dẫn đến đóng váng trên bề mặt sau khi tưới nước. Không làm đất quá to ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của bộ rễ.

Lên luống gieo trồng:

+ Vụ mưa làm luống cao: Độ cao của luống: 30 cm, mặt luống: 0,8 - 1 m, rãnh: 40 cm

+ Vụ khô lên làm luống vừa phải: Độ cao của luống: 15 – 20 cm, mặt luống: 0,9 – 1,2 m, rãnh: 25 cm

- San phẳng mặt luống:

+ Dùng bừa, cào răng, máy kéo san đất bằng phẳng

+ Tạo cho mặt luống được phẳng để tránh đọng nước khi trời mưa

+ Tạo điều kiện tốt cho cây sinh trưởng phát triển tốt

Mật độ, khoảng cách trồng

Khoảng cách cây và hàng:

- Đối với đậu leo gieo hạt khoảng cách 45 x 65 c m, mỗi lỗ để 2 cây.

- Đối với đậu lùn gieo hạt khoảng cách 30 x 50 cm, mỗi lổ để 2 cây.

5.2. Bón phân

Công thức phân thường dùng cho đậu cove là:

N: 120 - 200 kg/ha

P2O5: 100 - 150 kg/ha

K2O: 80 - 100 kg /ha

Dựa vào công thức trên có thể bón cho 1 ha đậu 800 - 1.000 kg phân 16-16-8 hay 200 kg Urê, 300 kg DAP và 150 kg KCl, 20-25 tấn phân chuồng và 1-2 tấn tro trấu.

 Sau đây là một ví dụ về thời điểm, loại phân và liều lượng bón cho 1 ha:

Loại phân

Tổng số

Bón lót

Tưới dậm    (5-10 NSG)

Bón thúc   (20-25 NSG)

Bón nuôi trái  (45 - 55 NSG)

Vôi (tấn)

1

1

     

Phân chuồng (tấn)

20

20

     

NPK 16-16-8 (kg)

500

300

 

200

 

Urê (kg)

100

 

20

 

80

DAP (kg)

100

 

30

 

70

KCl (kg)

100

   

50

50

 

            Lưu ý: Cần bón vôi xử lý đất để trừ các nguồn bệnh

            Ngừng bón phân đạm ít nhất 21 ngày trước khi thu hoạch

            Bón thúc lần 1: Làm cỏ và đánh rãnh một bên hàng đậu, bón phân NPK rồi vun mép lấp phân và giữ ấm gốc.

            Bón thúc lần 2: Làm cỏ và đánh rãnh bên phía đối diện, bón phân NPK và vun mép còn lại.

            Trong thời gian thu hoạch trái tươi, tưới bổ sung phân đạm và kali 10 ngày/lần để kéo dài thời gian thu trái và trái đậu được tốt.

5.3. Tưới nước

Dùng vòi sen tưới đều trên mặt luống, tưới phun mưa bằng hệ thống máy bơm. Gieo hạt xong tưới nước ngay, một ngày tưới 1 lần, cho đến lúc mọc đều. Sau khi cây mọc lên khỏi mặt đất 3 - 5 ngày mới tưới một lượt.

Thời kỳ cây con  cần luôn giữ ruộng sạch cỏ. Giữ ẩm đều cho cây (3 ngày tưới một lần),

Chú ý: Giai đoạn từ sau trồng đến khi cây ra hoa, đậu quả cần duy trì độ ẩm ở mức 75 - 80 %, để giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng sản lượng và chất lượng. Chỉ nên sử dụng các nguồn nước sạch, không dùng nước thải sinh hoạt hoặc nước ao tù đọng, ô nhiễm để tưới cho đậu đũa.

Nhổ cỏ, xới xáo đất

Tiến hành thường xuyên bằng tay, một số cỏ thường gặp: Cỏ gấu, cỏ mần trầu,…

Nhỏ cỏ phải lấp đất bù vào chổ hổng tránh đọng nước. Khi cây đậu có 1 - 2 lá thật tiến hành làm cỏ, xới xáo và bón phân thúc cho cây. Nhằm tăng độ thoáng khí trong đất giúp bộ rẽ phát triển.

5.4. Làm giàn

 Khi cây bỏ vòi thì bắt đầu làm giàn. Cây giàn dài 2,5-3m, có thể dung cây sậy già để cắm giàn, thân đậu bò dài hơn 3 m. Một số nơi nông dân dùng cây le để làm giàn, cắm giàn theo hình chữ X, phần chót lá cột dính nhau. Giàn nầy có thể sử dụng được 2 - 3 mùa, số lượng cây làm giàn từ 40.000 - 50.000 cây/ha. Giàn lưới đang được ưa chuộng thay thế cho giàn le, sậy.

6. Thu hoạch

6.1. Thời điểm thu hoạch

 Đậu lùn cho thu hoạch 40 - 45 ngày và đậu leo cho thu hoạch 45 - 50 ngày sau khi gieo, nếu chăm sóc tốt có thể thu được 12 - 15 đợt quả. Thu hái khi quả còn non, mới hình thành hạt. Lứa thứ 4 - 5 thu rộ, cách ngày thu 1 lần, mỗi lần thu khoảng 1 -1.5 tấn/ha. Đậu cho thu hoạch kéo dài 30 - 40 ngày.

6.2. Phương pháp thu hoạch

 Thu hái bằng cách dùng dao cắt hay dùng tay vặn nhẹ trái, không giật mạnh làm rụng nụ hoa các lứa sau. Thu hoạch và bảo quản nơi râm mát, vận chuyển ngay đến nơi tiêu thụ hoặc nơi chế biến.

II. QUẢN LÝ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CHÍNH TRÊN ĐẬU COVE

1. Bênh rỉ sắt.

Triệu chứng

Lúc đầu trên lá xuất hiện những điểm nhỏ màu hơi vàng nổi gờ, sau đó vết bệnh to dần, ở giữa màu vàng nâu lẩm xung quanh có quầng vàng hẹp, vết bệnh mở rộng đường kính tới 2 mm. Điểm gờ nhỏ là khối bào tử, thường ở mặt dưới lá, còn mặt trên lá chỗ vết bệnh có màu vàng nâu. Vết bệnh biểu bì vở tung để khối bào tử hạ màu hồng nâu tung ra ngoài, chung quanh vết bệnh có viền vàng hẹp. Khối bào tử thường lộ rõ ở mặt dưới lá, còn mặt trên thể hiện vết bệnh màu nâu vàng, nhưng cũng có khi khối bào tử hạ xuất hiện cả hai mặt.

Tác nhân gây bệnh

Bệnh gỉ sắt đậu đỗ do nấm Uromyces appendiculatus gây ra.

Đặc điểm phát sinh phát triển của bệnh

Ở xứ lạnh, nấm tồn tại qua mùa đông bằng bào tử đông trong tàn dư cây bệnh ở trên đất, đến mùa xuân nẩy mầm hình thành đảm và bào tử đảm theo gió lan truyền xâm nhập vào lá non hình thành ở bệnh đầu tiên. Trong trường hợp qua đông nẩy mần xâm nhập thì giai đoạn bào tử xuân không xuất hiện.

Ở xứ nóng, nấm tại bằng bào tử hạ (cũng có thể bào tử đông) bào tử hạ nẩy mầm xâm nhập hình thành ở bệnh đầu tiên trên đồng ruộng. Giống như một số loại bệnh gỉ sắt khác, bào tử hạ của nấm lan truyền theo gió đi rất xa. Con người, súc vật và công cụ cũng có thể là nhân tố giúp nấm lan truyền.

Bào tử hạ nẩy mầm trong phạm vi nhiệt độ 10 – 30oC như thích hợp nhất 16 – 22oC. Ở nhiệt độ 15 – 24oC phù hợp nhất cho nấm hình thành bào tử hạ và xâm nhập qua lổ khí để lây bệnh. Ở nhiệt độ 2 – 60C bào tử hạ không thể hình thành. Nước ưa hoạt động trong điều kiện ẩm độ cao trên 95 %. Giọt nước ướt trên bề mặt lá là điều kiện tất yếu cho nấm nẩy mầm và xâm nhập, do đó giọt sương đêm, sương mù rất có tác dụng đối với sự phát triển của bệnh gỉ sắt. Trong điều kiện thích hợp, từ khi bào tử hạ nẩy mầm xâm nhập ký chủ đến khi hình thành bào tử tiếp tục phát triển sau 8 – 9 ngày nữa mới phá vở biểu bì lộ ra ngoài để phát tán.

Biện pháp phòng trừ

 Để phòng trừ bệnh gỉ sắt hại đậu đỗ cần thực hiện các biện pháp sau đây: Thực hiện chế độ luân canh thích hợp, không nên trồng đậu liên vụ trên đồng ruộng, chú ý chăm sóc tưới nước hợp lý, luống trồng phải cao có rãnh thoát nước, chế độ luân canh lúa nước là hợp lý nhất để phòng trị bệnh này.

Thu dọn thật sạch tàn dư cây bệnh sau khi thu hoạch tránh để rơi rãi trên ruộng. Cây đậu làm phân chuồng cần phải ủ hoai mục.

Sử dụng giống chống bệnh là một biện pháp rất quan trọng. Tuy nhiên giống đậu mới tuyển chọn chống bệnh chỉ có giá trị trong một thời gian, cho nên cần phải liên tục tuyển chọn giống mới để chống lại các dạng sinh học mới xuất hiện. Chọn giống đậu chin sớm, trồng sớm thu hoạch sớm tránh lúc bệnh phát sinh mạnh để có thể giảm bớt thiệt hại do bệnh gây ra.

Phun thuốc kịp thời và đúng lúc, phun phòng trước khi bệnh phát sinh, thường phun thuốc trước khi đậu ra hoa và sau đó phun lần thứ hai sau khi đậu ra trái là an toàn, nếu giống mẫn cảm thì phun lần thứ ba bằng thuốc đặc trị phòng trừ bệnh gỉ sắt như thuốc có hoạt chất: Copper Oxychloride + Kasugamycin (Kasuran 16.6WP); Carbendazim, Hexaconazole

2. Bệnh sương mai

Triệu chứng

Bệnh thường xuất hiện trên những lá còn non (khoảng 5-6 ngày tuổi), ở mặt trên của lá ban đầu vết bệnh chỉ là những chấm nhỏ, mầu xanh nhạt hay vàng nhạt, sau đó lớn dần thành hình đa giác, bất định, mầu vàng nhạt, mầu   xám hay mầu nâu sậm có viền mầu xanh vàng, khô cháy. Vết bệnh nằm rải rác trên lá, nhưng thường tập trung nhiều nhất ở dọc các gân lá.

Vào những lúc sáng sớm trời ẩm ướt thì ở mặt dưới của lá tại những chỗ có vết này thấy có một đám bông xôm xốp mầu trắng xám, hiện tượng này đã làm cho lá bị vàng rồi rụng dần.

Bóc vỏ những quả bị bệnh ra ở bên trong cũng có lớp nấm mốc trắng xám. Hạt của những quả bị bệnh nhìn xù xì, nhỏ, nhẹ và thường bị nứt, nếu bệnh nặng hạt sẽ bị lép.

Tác nhân gây bệnh

 Bệnh do nấm Peronospora manshurica gây ra. Chúng có thể gây hại trên nhiều bộ phận như lá, thân, hoa, quả...nhưng chủ yếu là gây hại trên lá.

Đặc điểm phát sinh, gây hại

Bệnh truyền qua hạt giống và tàn dư của cây bị bệnh từ vụ trước. Nếu hạt giống trước khi đem gieo đã có sẵn mầm bệnh thì khi gieo xuống khoảng nửa tháng lá sẽ có đốm vàng, mép lá cong xuống phía dưới, mặt dưới lá có nhiều khuẩn ty bao phủ, cây con bị lùn.

Bệnh này xuất hiện và gây hại tương đối phổ biến ở các vùng, nhất là ở những nơi có ấm độ không khí trong ruộng cao, nhiệt độ không khí thấp, trời hơi lạnh, có sương mù nhiều, tạo cho ruộng đậu ẩm thấp, vì thế bệnh thường gây hại trong vụ Đông xuân nhiều hơn.

Biện pháp phòng trừ

Không lấy hạt đậu ở những ruộng đã bị bệnh của vụ trước để làm giống gieo trồng cho vụ sau. Sau khi thu hoạch xong thu gom sạch sẽ những tàn dư của cây đậu, đem ra khỏi ruộng rồi tiêu hủy. Trước khi gieo trồng cần cày, bừa kỹ để vùi sâu những tàn dư của cây bị bệnh. Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng thuốc BVTV.

Luân canh một vài vụ với lúa nước hoặc một vài loại rau trồng nước khác để cắt nguồn bệnh sương mai.

Ở những ruộng thường bị bệnh gây hại nên phun thuốc phòng trừ bệnh khi bệnh chớm xuất hiện bằng một trong các loại thuốc như: Aliette 80 WP, Ridomil Gold  68WG, Metaxyl 500 WP, Mancozeb 80 WP…

3 Bệnh thán thư

Triệu chứng

Trên thân cây con vết bệnh kéo dài, màu nâu vàng, hơi lõm xuống và nứt nẻ. Bệnh nặng, nhiều vết hợp lại thành vệt dài làm cây con khô chết, đổ rạp xuống. Trên lá cây đã lớn, vết bệnh thường nằm dọc theo gân lá, hình tròn hoặc bất định. Vết bệnh lúc đầu màu vàng nâu, sau chuyển sang nâu sẫm, có viền màu đỏ. Trên vết bệnh có nhiều chấm nổi màu nâu đen, cuối cùng vết bệnh khô rách lá. Trên cuống lá và thân cành, vết bệnh kéo dài màu nâu sẫm, hơi lõm, cây còi cọc, lá vàng dễ rụng. Bệnh còn phá hại cả cánh hoa, đài hoa làm hoa rụng không đậu quả. Trên vỏ quả vết bệnh hình tròn, màu nâu vàng hoặc màu xám, lõm sâu, xung quanh nổi gờ màu nâu đỏ.

Nguyên nhân gây bệnh

 Bệnh do nấm Colletotrichum lindemuthianum gây ra.

Đặc điểm phát sinh, gây hại

 Bệnh thán thư phát sinh phá hại mạnh trong điều kiện ẩm độ không khí cao và nhiệt độ tương đối thấp. Ẩm độ không khí dưới 80%, nhiệt độ dưới 13oC bệnh có thể ngừng phát triển

Nhiệt độ thích hợp cho bệnh phát triển là 16-200C. Ở nước ta bệnh thường phát sinh phá hại mạnh vào thời gian mưa, ẩm ướt kéo dài trong vụ Đông Xuân, nhất là trên những ruộng đậu đỗ trũng thấp, nước ứ đọng nhiều.

Biện pháp phòng trừ

Trồng các giống đậu đỗ chống bệnh. Gieo hạt ở vị trí cao ráo, thoát nước tốt. Vun gốc cao, tránh ứ đọng nước vào mùa mưa. Chỉ lấy hạt ở những cây, ruộng không bị bệnh để làm hạt giống cho vụ sau. Xử lý hạt giống bằng các loại thuốc hoá học có khả năng thấm sâu để diệt sợi nấm. Sau thu hoạch thu gọn sạch tàn dư cây, quả bị bệnh đem đốt kết hợp cày sâu để vùi lấp tàn dư.

Bón phân cân đối giữa N, P, K. Thực hiện luân canh với cây trồng nước.

Khi bệnh chớm xuất hiện có thể phun thuốc phòng trừ kịp thời: Tilt super 300 EC, Bordeaux 1%, Benlate C 50 WP, Score 250 EC, Carbenda Super 50SC...

 4. Dòi đục lá

Triệu chứng

Dòi đục lá còn được gọi là sâu vẽ bùa, đây là loài dịch hại gây hại nặng trên cây đậu đũa, dưa, bầu bí, đậu đỗ…Ấu trùng dòi đục lá đục vào trong lá ăn mô lá, chừa lại biểu bì tạo ra những đường ngoằn nghèo trên lá.

Đặc điểm hình thái

Thành trùng là loài ruồi đen nhỏ, có điểm vàng trên lưng ngực, bay kém nên di chuyển trên ruộng theo hướng gió. Ấu trùng là loại dòi có màu vàng nhạt hoặc trắng kem, nằm trong mô mặt trên của lá trong đường đục, ấu trùng dài khoảng 3 mm. Khi dòi đẫy sức chui ra ngoài hóa nhộng. Nhộng màu vàng, nâu bóng dính trên lá hoặc rơi xuống mặt đất.

Đặc điểm sinh học và sinh thái

* Vòng đời: Trứng: 2-4 ngày, ấu trùng: 10 -13 ngày, nhộng: 5-7 ngày, trưởng thành: 1-3 ngày.

Con ruồi cái đẻ trứng trên mặt lá, một con cái có thể đẻ 250 trứng. Trứng nở sau khoảng 3 - 4 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ. Dòi đục lá đục ăn mô lá làm giảm diện tích quang hợp, do vậy chúng làm cây vàng, cằn cỗi, lá rụng sớm, chúng gây hại nặng giai đoạn cây con. Khi lá bị hại nặng, nhất là những lá gần quả mới hình thành có thể làm ảnh hưởng đến năng suất. Đối với một số cây rau ăn lá, vết đục của dòi đục lá làm giảm thương phẩm.

Ngoài ra, vết thương trên lá do dòi đục lá gây ra tạo điều kiện cho các vi sinh vật gây hại cây khác xâm nhập. Dòi đục lá có thể xuất hiện nhiều lứa gây hại trong năm nhưng thường gây hại nặng vào mùa nắng.

Biện pháp phòng trừ

Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, dọn dẹp các loài cỏ lá rộng (ký chủ phụ) một tháng trước khi trồng, gieo cấy đồng loạt.

Biện pháp sinh học: Dòi đục lá có nhiều loại ký sinh, nên theo dõi mật độ và tỷ lệ lá bị hại trước khi sử dụng thuốc hóa học. Một số thiên địch của dòi đục lá:

Thiên địch ăn mồi: Loài ruồi ăn dòi có vai trò quan trọng hạn chế dòi đục lá. Nhóm ong ký sinh: Encarsia formosa, Dacnusa sibirica, Opium pallipes, và Diglyphus isaea.

Biện pháp hóa học: Khi tỷ lệ lá bị hại ≥ 30% hoặc có 5 - 10 con trưởng thành/cây, có thể sử dụng BVTV có hoạt chất sau: Diazinon (Diazan 50EC, 60 EC)

5. Bọ trĩ

Triệu chứng

Bọ trĩ trưởng thành và non đều hút nhựa lá làm cho lá có màu vàng đỏ. Khi mật độ thấp xuất hiện những chấm nhỏ xếp theo hàng dọc trên lá, lá non hầu như bị quăn lại, không hồi phục được.

Đặc điểm hình thái

Trưởng thành nhỏ, dài 1-2 mm có màu đen, râu đầu dài, chiếm 1/3 thân, 2 đuôi cánh hẹp, cánh trước ở phần giữa thắt lại. Trưởng thành đẻ trứng rải rác trong mô lá. Trứng nhỏ mới đẻ màu trắng sữa, gần nở có màu vàng nhạt. Bọ trĩ non rất giống thành trùng nhưng không cánh màu vàng nhạt.

Đặc điểm sinh học và sinh thái

* Vòng đời: Trứng: 3-4 ngày, ấu trùng 10-14 ngày, trưởng thành có thể sống đến 3 tuần. Bọ trĩ hoạt động cả ban ngày và ban đêm, ban ngày chúng hoạt động tương đối nhanh nhẹn khi bị khua động chúng lẫn tránh sang lá khác hoặc giả chết rơi xuống đất. Chúng ẩn nấp trong lá nõn hoặc các chóp lá quăn do không ưa ánh sáng trực xạ. Khi trời râm mát chúng bò ra ngoài.

Bọ trĩ gây hại ngay từ khi cây đầu mới mọc, mật độ tăng dần sau đó. Trời mưa lớn là bất lợi cho bọ trĩ. Bọ trĩ thường hại nặng những ruộng đậu thiếu nước.

Biện pháp phòng trừ

Biện pháp canh tác: Tưới nước đầy đủ, bón phân cân đối. Khi có bọ trĩ phá hoại, cần tích cực chăm sóc bón thêm ure giúp cây hồi phục nhanh.

Khi bọ trĩ phá hại nặng có thể sử dụng các loại thuốc gốc Imidacloprid (Confidor, Gaucho,…), Fipronil (Regent…), Thiamethoxam (Actara 25WG) để phòng  trừ.

6. Sâu đục quả

Triệu chứng

Sâu non đục thẳng vào nụ và hoa ăn phá nhụy và các cánh hoa bên trong hoặc đục khoét vỏ qủa chui vào trong ăn thịt quả và hạt. Ngoài ra, sâu còn có thể đục vào mắt thân làm cây chậm phát triển hoặc héo khô. Sâu gây hại đến đâu thải chất bài tiết đến đó làm cho các bộ phận bị hại rất dễ thối và rụng.

Đặc điểm hình thái

Trưởng thành: Cơ thể dài 11-13 mm, sải cánh rộng 21-25 mm. Cánh trước màu sám đen có 1 vệt trắng ở khoảng 1/3 gốc cánh đến mép cánh. Mép ngoài 2 cánh có mầu xám đen đậm. Trưởng thành đực có 3 túm lông dài ở đốt bụng cuối cùng. Trứng: hình bầu dục, dài 0,5-0,6 mm. Mới đẻ có màu trắng sữa, sắp nở màu vàng nâu. Sâu non: dài 12-16 mm. Ở mặt lưng của mỗi đốt cơ thể có các hàng chấm màu nâu. Nhộng: dài 10-12mm. Có màu xanh lúc mới hoá nhộng. Khi sắp vũ hóa có màu nâu thẫm.

Đặc điểm sinh học và sinh thái

* Vòng đời: 24 - 43 ngày:

- Trứng: 2 - 3 ngày.

- Sâu non: 13 -15 ngày.

- Nhộng: 6 - 9 ngày.

- Trưởng thành: 5 - 7 ngày

Trưởng thành hoạt động giao phối và đẻ trứng từ nửa đêm về sáng. Ban ngày ẩn nấp rất khó phát hiện. Trưởng thành cái sau giao phối 1-2 ngày mới đẻ trứng, trứng được đẻ rải rác hay thành cụm 2-4 trứng trên lá đài, nụ hoa, cuống hoa, đôi khi còn thấy trứng ở mặt dưới lá non hay trên quả mới tượng. Một trưởng thành cái đẻ được khoảng 50-120 trứng, thời gian đẻ trứng kéo dài 5-7 ngày. Vòng đời của sâu phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài như ẩm độ, nhiệt độ. Sâu gây hại khi cây bắt đầu có nụ hoa, nụ quả cho tới khi cây hết cho trái. Sâu non tuổi 1-2 thường gây hại nụ, hoa và quả mới tượng. Sâu tuổi 3-5 thường gây hại trên trái đang lớn. Sâu non đục thẳng vào trong quả ăn thịt quả hoặc hạt, thải luôn phân trong quả làm cho quả rất dễ bị thối. Trung bình 1 sâu non phá 1-3 quả. Sâu non thường ăn phá về đêm. Khi đẫy sức sâu non gặm 1 lổ trên quả chui ra ngoài để xuống đất hóa nhộng. Nhộng thường có kén đất bao bọc. Trong các vụ đậu, vụ hè thu thường bị sâu đục quả đậu gây hại nặng nhất.

Biện pháp phòng trừ

Áp dụng IPM: Thiên địch của sâu đục quả đậu có một số ong ký sinh sâu non như Cotesia sp., Baeognatha sp.

Vệ sinh đồng ruộng, tiêu diệt cỏ dại, ký chủ phụ, thu gom tàn dư cây trồng đem đốt hay chôn sâu. Luân canh với cây trồng không cùng họ ký chủ. Có thể dùng thuốc (khi đã có 50% hoa của đợt 1 đã đậu quả) các loại thuốc như: Pegasus 500 SC, Diaphos 10GR, Angun 5 WG, Proclaim  1.9 EC, Peran  10 EC, ….

7. Sâu khoang (Sâu ăn tạp)

Triệu chứng

Sâu khoang còn được gọi là sâu ăn tạp gây hại trên tất cả các loại rau, là đối tượng gây hại nặng trên rau, đậu. Sâu non tuổi nhỏ thường gây hại nghiêm trọng nhất bởi vì hàng trăm con sâu non tập trung lại ăn lá cây và nhanh chóng làm lá cây xơ xác. Sâu non còn có thể gặm ăn vỏ quả làm giảm phẩm chất.

Đặc điểm hình thái

Sâu khoang có nhiều loại, trưởng thành là loại ngài có màu xám hoặc nâu xám, cánh trước có màu nâu vàng, có các vân ngang bạc trắng óng ánh, cánh sau màu hơi trắng. Trứng hình bán cầu, mới đẻ màu vàng, sau màu tro tối xếp với nh au thành ổ, có phủ một lớp lông màu vàng rơm. Sâu non mới nở có màu xanh sáng, Sâu tuổi lớn có màu từ xám xanh đến nâu đen với những sọc vàng hoặc trắng, đốt bụng thứ nhất có một vết đen to bao quanh, trên mỗi mảnh lưng có vân hình trăng khuyết. Nhộng màu đỏ sẫm, cuối bụng có một đôi gai ngắn.

Đặc điểm sinh học và sinh thái

* Vòng đời: 25 - 48 ngày:

- Trứng: 3 - 7 ngày

- Sâu non: 12 - 27 ngày

- Nhộng: 8-10 ngày

- Trưởng thành: 2 - 4 ngày

Ngài hoạt động mạnh vào ban đêm, có xu tính với mùi chua ngọt và ánh sáng bước sóng ngắn. Trứng đẻ thành ổ trên lá, một ổ có từ 50 - 200 trứng. Một con cái có thể đẻ từ 500 – 2.000 trứng. Sâu tuổi nhỏ sống tập trung ăn hết thịt lá chừa lại biểu bì và gân. Ở tuổi 3 - 4 sâu phân tán và ăn khuyết lá hoặc có khi ăn trụi lá. Sâu non có 6 tuổi, khi đẫy sức ở tuổi 6 dài từ 35 - 50 mm. Khi mật độ sâu cao có thể làm cho lá rụng nhanh. Tuy nhiên sự gây hại thường không nghiêm trọng lắm do khả năng tự đền bù của cây. Khi đẫy sức sâu chui xuống đất hoá nhộng, sau khoảng 10 ngày thì vũ hoá.

Biện pháp phòng trừ

* Biện pháp canh tác:

 Vệ sinh đồng ruộng trước và sau khi trồng, cày ải phơi đất.

 Dẫn nước ngập ruộng trước khi làm đất.

Biện pháp cơ giới vật lý: Diệt ổ trứng và sâu non bằng tay.

*Biện pháp sinh học:

Hạn chế phun thuốc để bảo tồn các loài thiên địch thường xuất hiện trên ruộng như nhện, bọ rùa, ong kí sinh...

Dùng bẫy pheromone hoặc bẫy chua ngọt có hiệu quả.

Thiên địch gồm:

Các loài ăn mồi: Bọ rùa, kiến, bọ xít ăn thịt, bọ cánh cứng.Ong kí sinh: Cotesia prodeniae, Telenomus remus.Vi khuẩn BT, virus nhân đa diện.

*Biện pháp hóa học:

Dùng các loại thuốc ít độc như nhóm Abamectin (Abamectin; Tập kỳ 1.8 EC Abatin 1.8 EC; Silsau 3.6 EC…); các loại chế phẩm vi sinh: Thuốc có nguồn gốc từ Bt như V-BT; Biocin 8000 SC, Dipel 32 WP; có nguồn gốc NPV như Vicin- S… hoặc thuốc thảo mộc như Rotenone hoặc Neem. Có thể dùng thuốc như Karate 2.5 EC, SecSaigon 5 EC, Alpha 5EC, Padan 50SP, Sherpa 10EC,…

Gửi bình luận

Vui lòng đợi ...