TỪ ĐIỂN

Tra theo từ điển:


LỊCH

QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP CÂY DỨA

30/11/2017 | Cây ăn quả
Phòng BVTV | 3878 lần xem | 0 bình luận

I. KỸ THUẬT CANH TÁC         

1. Thiết kế lô trồng và chuẩn bị đất

 - Vùng tương đối bằng phẳng, độ dốc thấp (dưới 50): Với các vùng đất bằng, mực nước ngầm thấp, không bị ngập úng trong mùa mưa, việc thiết kế chủ yếu theo băng hàng, trong đó có hàng hẹp (cách nhau 30 – 40 cm) và hàng rộng (cách nhau 80 – 100cm) dùng để đi lại, chăm sóc và thu hái quả. Kiểu thiết kế ở vùng đất bằng là kiều bàn cờ, có các trục đường chính dành cho ô tô, máy kéo hoặc xe cải tiến, nối liền bằng hệ thống các đường nhánh vằ đường lô nhỏ để ngừời và các phương tiện thô sơ khác đi lại dễ dàng.

- Vùng có địa hình không bằng phẳng (độ dốc trên 7 – 80): Hạn chế đến mức thấp nhất tác hại rửa trôi, xói mòn đất trên cơ sở thiết kế theo các đường đồng mức (sử dụng thước chữ A), có hệ thống ngăn dòng chảy và nếu có thể trồng xen cây phân xanh cải tạo đất. Trong toàn khu vực tập trung, bố trí hệ thống đường trục chính và đường liên đổi (nối các đồi với nhau). Trong từng đồi có các đường chính (nằm trong đường đồng mức) và các đường nhánh nối các đường chính với nhau.

2. Kỹ thuật làm đất

 - Vùng đất bằng phằng hoặc ít dốc, không bị ảnh hưởng của mực nước ngầm, việc cày bừa được tiến hành toàn diện, cày một lần và bừa một lần, sau đó chia lô và tiến hành trồng.

- Vùng đất tương đối dốc có thể cày bừa toàn diện hoặc làm đất cục bộ, tức là chỉ cày trên các hàng, luống dự định trồng. Trước khi cày rạch hàng để trồng, phải sử dụng thước chữ A để xác định đường đồng mức và đánh dấu bằng cách lấy cuốc rạch nhẹ hoặc rắc vôi bột.

- Cần chú ý là việc cày rạch hàng nên tiến hành đồng thời hoặc ngay trước lúa trồng một hai ngày để đất trên hàng không bị dí chặt, khi cuốc hố đặt chồi dứa sẽ thuận lợi hơn.

- Riêng với những vùng dứa phải trồng lại chu kỳ hai, nơi có điều kiện có thể sử dụng máy băm thân lá, nếu không sử dụng cuốc rang cào thân lên phơi khô tại ruộng, tập trung thành đống to rồi đốt sạch hoặc để lâu ngày cho hoai mục (rắc thêm vôi bột).

3. Chọn và xử lý chồi giống

Có thể sử dụng ba loại chồi chính phát sinh từ cây mẹ để trồng mời nhưng phải chú ý một số điểm sau đây:

- Chồi ngọn: Thường cho quả to, đồng đều, chất lượng tốt nhưng có thời gian từ khi trồng đến khi quả dài, chồi dễ bị thối trong quá trình vận chuyển do có nhiều lá non chứa nhiều nước.

- Chồi cuống: Kích thước nhỏ nên thường phải qua một thời gian chăm sóc ở vườm ươm.

- Chồi nách: Chịu được vận chuyển, sinh trưởng khỏe nhưng phải chú ý loại bỏ các chồi quá lớn, gặp nhiệt độ thấp dễ ra hoa sớm, quả sẽ rất bé nhất là khi trồng vào vụ Thu.

Chồi dứa sau khi đã chọn lọc, tiến hành bóc bẹ lá ở phần gốc để lộ ra 3 – 4 vòng mắt, bó lại thành từng bó nhỏ (15 – 25 chồi một bó), sau đó xử lý bằng thuốc hóa học để trừ nấm bệnh ở gốc thân và rệp sáp truyền bệnh héo rũ (dung dịch Actara/Diazan + 0,5 dầu khoáng + Aliette 80 WP 0,25% (hoặc Ridomil Gold 68WG) trong thời gian 10-15 phút.

4. Thời vụ trồng

 Có thể trồng được quanh năm, thời điểm xuống giống tốt nhất là sau mùa mưa.

5. Mật độ và khoảng cách trồng

Nên bố trí trồng cây theo hàng kép đôi để thuận tiện cho việc đi lại chăm sóc, khoảng cách:  0,4 x 0,9 x 0,25 m; mật độ : 61.538 cây/ha đối với nhóm dứa Queen

- Khoảng cách: 0,4 x 1,0 x 0,25m, mật độ: 57.142 cây/ha cho nhóm Cayenne.

6. Cách trồng

- Dùng thuổng cầm tay hoặc cúp đào lỗ trồng trên hàng theo khoảng cách đã bố trí, đặt gốc chồi dứa sâu khoảng 4-5 cm, nén đất xung quanh giữ chồi thẳng đứng.

- Tránh gây bắn đất vào noãn chồi và không nên trồng quá sâu vì dễ gây thối gốc.

- Trồng dặm: Sau khi trồng 15-20 ngày phải kiểm tra trồng dặm những cây chết bằng những cây tốt cùng trọng lượng hoặc dựng lại những cây bị đổ để đảm bảo mật độ đông đặc không bị mất khoảng cây trong vườn trồng.

- Tỉa chồi, cắt lá định chồi:

+ Tỉa chồi: Áp dụng đối với chồi cuống, có thể dùng tay tách nhẹ theo chiều từ trên xuống và được thực hiện vào giai đoạn các mắt dứa ở đáy trái bắt đầu phát triển.

+ Cắt lá, định vị chồi: Sau khi thu hoạch vụ dứa tơ, kết hợp cắt bớt lá già cách gốc 20-25cm. Chỉ để lại một chồi bên (chồi nách) gần mặt đất nhất và mọc hướng vào bên trong hàng kép.

7. Làm cỏ

 - Sau khi cày bừa xong, phải nhặt hết cỏ rồi mới tiến hành trồng. Trong trường hợp làm đất tối thiểu tức là chỉ cày bừa trên hàng trồng (hàng đơn) thì sau khi trồng 1 – 2 tháng phải tiến hành cày bừa giữa hàng và nhặt hết các loại cỏ dại, phơi khô, đốt hoặc kết thành đống cho hoai mục (rắc thêm vôi bột khi tiến hành ủ).

 - Khi cây còn nhỏ, phải thường xuyên làm vệ sinh trên hàng và giữa các cây. Trồng xen cây họ đậu giữa hai hàng cây.

8. Tỉa chồi, cắt lá định chồi

Tỉa chồi: Áp dụng đối với chồi cuống, có thể dùng tay tách nhẹ theo chiều từ trên xuống và được thực hiện vào giai đoạn các mắt dứa ở đáy trái bắt đầu phát triển.

Cắt lá, định vị chồi: Sau khi thu hoạch vụ dứa tơ, kết hợp cắt bớt lá già cách gốc 20-25cm. Chỉ để lại một chồi bên (chồi nách) gần mặt đất nhất và mọc hướng vào bên trong hàng kép.

9. Phân bón và phương pháp bón phân

Có thể bón theo công thức tổng quát:

- 5-6 g N/cây/vụ tương đương 10-12 g urea/cây/vụ.

- 4 g P2O5/cây/vụ tương đương 22g super lân/cây/vụ

- 10-12 g K2O/cây/vụ tương đương 20 – 24g sulphate kali/cây/vụ

Tương đương 1 ha bón: 600-720kg ure + 1.300kg lân + 1.200-1.400kg sulphate kali

 (Tránh sử dụng các dạng phân bón có chứa Clo như Kaliclorua)

- Bón lót: Trước khi trồng 3-4 ngày bón 25% tổng lượng phân đạm, 60% lân và 50% kali của cả năm. Lượng phân cho mỗi gốc cây như sau:

+ 2,5 – 3 g urea

+ 13 g lân super

+ 10-12 g sulphate Kali

Đất thấp nhiễm phèn cần bổ sung thêm 1-1,2 tấn vôi/ ha.

- Bón cơ bản: 

Trong 2- 8 tháng sau khi trồng, nên bón hết lượng urea: 7 - 7,5g, lân: 9g và 25% kali còn lại (2,5-3g kali), chia đều phân 3-4 lần bón.

Tưới ướt cây trước khi bón hoặc bón sau những cơn mưa, bón theo từng cây, tập trung vào các lá già gần gốc.

Ngưng bón phân 1,5 - 2 tháng trước khi xử lý ra hoa.- Bón nuôi quả: Chia lượng phân kali còn lại (7,5-9g) làm 2 lần bón, lúc 1 và 2 tháng sau khi hoa nở.

10. Xử lý ra hoa

Cây dứa có khuynh hướng ra hoa tự nhiên vào thời kỳ ngày ngắn. Sự ra hoa của cây dứa phụ thuộc vào kích thước và mức phát triển của cây, dứa Cayenne có tổng số lá trên 40 lá và chiều dài lá khoảng 1 m. Dứa Queen có 28-32 lá, chiều dài lá khoảng 70cm.

Tỉ lệ phần trăm (%) ra hoa sẽ thấp nếu nhiệt độ vượt quá 30oC, tốt nhất là nên xử lý vào ban đêm hoặc sáng sớm.

Ngưng bón phân 1,5-2 tháng trước khi xử lý, đặc biệt là phân đạm.

Trường hợp xử lý xong gặp mưa to, thì phải xử lý lại. 

Giống dứa

Hóa chất

Liều lượng

(50.000cây/ha)

Số lần, cách xử lý

Điều kiện xử lý

Cayenne

Ethrel 48% + Urea

(Nước lạnh10-12 0C)

2 lít thuốc pha với 1000 lít nước

+ 20 kg urea

Xử lý 2 lần (cách nhau 2-3 ngày), rót vào tim đọt 50-60 ml

Tưới nước 2-3 ngày trước khi xử lý ra hoa

CaC2 (đất đèn)

(Nước lạnh10-12 0C)

15 lít nước + 200 gam đất đèn

Xử lý 2 lần (cách nhau 2-3 ngày), rót vào tim đọt 50-60 ml

Tưới nước 2-3 ngày trước khi xử lý ra hoa

Queen

CaC2 (đất đèn)

15 lít nước + 150 gam đất đèn

Xử lý 1 lần, rót vào tim đọt 50-60 ml

 

11. Độ chín thu hoạch

Dứa xuất khẩu quả tươi khi thu hoạch vỏ quả đã chuyển từ màu xanh thẫm sang xanh nhạt, 2 hàng mắt phía cuống đã có kẽ vàng. Dứa cho chế biến công nghiệp có 1-3 hàng mắt phía cuống có màu vàng.

Kỹ thuật thu hái: Cắt quả kèm theo đoạn cuống dài 2-3 cm, vết cắt phẳng không làm quả bị dập, gãy cuống, gãy ngọn. Không thu hoạch vào ngày có mưa hoặc nắng gắt. Khi cần lấy chồi ngọn để trồng hoặc bỏ đi đều phải dùng dao cắt, không được bẻ vì vết lõm vào quả sẽ gây mau thối quả.

12. Bảo quản ở nơi sản xuất

- Thu hoạch xong phải vận chuyển về nơi râm mát, sạch, không chất đống ngoài nắng hoặc mưa.

- Bảo quản quả tươi xuất khẩu: Chọn quả lành, không bị dập, không có rệp sáp, vặt bỏ lá ở gốc quả, cắt bằng cuống cách gốc 2cm. Phân loại, đóng gói đưa vào kho mát.

II. QUẢN LÝ TỔNG HỢP DỊCH HẠI DỨA

1. Rệp sáp (Pseudococcus brevipes)      

1.1. Đặc tính sinh học

- Vòng đời của rệp sáp hại dứa biến động trong khoảng 42-63 ngày, theo lí thuyết mỗi năm rệp có khoảng 5-6 đời.

- Là loài sinh vật có khả năng sinh sản đơn tính (tức là rệp sáp cái không cần giao phối vẫn có khả năng đẻ trứng và trứng này vẫn nở thành con bình thư­ờng).

- Đẻ trứng sớm, sau khi nở khoảng 20-25 ngày (tuổi 3) là rệp sáp bắt đầu đẻ trứng, từ khi bắt đầu đẻ đến lúc ngừng đẻ, chết khoảng 20-30 ngày, lượng trứng mỗi rệp cái đẻ tối đa khoảng 300-400 trứng, tỷ lệ nở của trứng khá cao, khoảng 80% trở lên.

1.2. Triệu chứng và tác hại

- Rệp sáp sống tập trung ở rễ, gốc, chân lá và quả dùng vòi chích hút chọc thủng lớp biểu bì lá, vỏ rễ, quả... để hút các chất dinh dư­ỡng trong dịch cây.

- Các vết châm của rệp làm cho mô cây bị thâm nâu, hạn chế quá trình vận chuyển chất trong cây.

- Các cây dứa bị rệp gây hại sinh trưởng phát triển yếu, cây còi cọc, lá chuyển màu xanh vàng có ánh đỏ, có thể bị héo.

- Quả bị rệp hại có nhiều vết bẩn trên quả, chất lượng suy giảm nhiều.

- Rệp sáp luôn sống cộng sinh với kiến; kiến sống bằng chất mật do rệp tiết ra, chăm sóc và vận chuyển rệp đi khắp nơi.

- Rệp sáp hại dứa được xác định là môi giới truyền bệnh héo vàng-đỏ lá dứa (bệnh wilt) là bệnh vi rút.

1.3. Biện pháp phòng trừ

- Khi làm đất, cho tiêu huỷ hoặc thu dọn hết tàn dư cây dứa cũ và cỏ dại trên đồng ruộng. Tạo vành đai chống kiến xâm nhập từ ngoài vào vườn dứa.

- Chồi giống dứa trước khi trồng phải xử lí bằng nước thuốc Diazan 50EC hoặc Ofatox 400 EC pha nồng độ 0,1% + 0,4% dầu khoáng (nếu không có dầu khoáng có thể sử dụng dầu hoả) để loại trừ nguồn rệp ban đầu. Trồng dứa với mật độ hợp lí và luôn giữ cho vườn dứa sạch cỏ dại, thông thoáng.

- Khi rệp sáp hại dứa đạt tới mật độ 7-10 con/cây cần phải tiến hành biện pháp diệt trừ bằng phun dầu khoáng + thuốc hoá học như:­  Oncol 20 EC: 0,1%, Supracide 40 ND 0,1-0,15%, Danitol 10 EC...

- Sau mỗi chu kỳ cây dứa, luân canh với các cây trồng khác từ 1-2 năm tr­ước khi trồng dứa trở lại.

2. Nhện đỏ (Dolichotetranychus sp)

2.1. Đặc tính sinh học

- Nhện cái trưởng thành có kích thước khoảng 0,25 mm chiều dài, hình ô van dài, có màu đỏ da cam sáng.

- Nhện phát triển rất nhanh trong điều kiện thời tiết nóng và khô, trong điều kiện này vòng đời của nhện có thể được hoàn thành chỉ trong 10 ngày hoặc ít hơn, nêu có thể gây thành dịch rất nhanh.

2.2. Triệu chứng và tác hại

- Nhện đầu tiên chích hút và gây hại trên phần mô trắng tại gốc của lá, ở đó chúng gây hiện tượng mất nước và tạo thành những đốm màu nâu hoặc nâu đen.

- Cây dứa bị nhện hại sinh trưởng kém, còi cọc, phiến lá nhỏ hơn, ngắn hơn cây bình thường.

- Lá cây bị biến màu và có màu vàng trắng xen lẫn với những đốm màu xanh ở phần đầu chóp lá.

- Cây bị hại nặng toàn bộ lá có màu vàng trắng, cây không phát triển quả hoặc quả rất nhỏ.

2.3. Biện pháp phòng trừ

- Kiểm tra cây con giống trước khi trồng, nếu phát hiện thấy có nhện thì cần thiết phải xử lý giống hoặc phun thuốc trừ nhện trên cánh đồng trước khi tách chồi giống.

- Mức độ gây hại của nhện biến đổi phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khi trồng. Nếu điều kiện khô hạn kéo dài sau trồng, phải tiến hành điều tra phát hiện, thấy có nhện trên đồng ruộng cần phun thuốc để trừ nhện.

- Các loại thuốc hóa học để phun trừ nhện là: Ortus 5 SC, Comite 73 EC,…..

3. Bọ hung hại rễ: (Adoretus chinensis Thunber)

Thuộc họ bọ hung Scarabaeidae, bộ cánh cứng Coleoptera.

3.1. Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học  

- Triệu chứng và mức độ gây hại: Bọ hung non sống trong đất ở vùng rễ cây dứa cắn ăn rễ cây dứa, khi cây đã hết rễ chúng còn gặm ăn sâu cả vào phần gốc cây. Lúc mới nở và tuổi nhỏ (tuổi 1-2), sâu non chủ yếu ăn các chất hữu cơ trong đất và một phần rất ít những rễ nhỏ của cây; sau tuổi 2 đến tuổi 5 chúng ăn chủ yếu là rễ cây dứa. Cây dứa bị hại lá héo, chuyển sang màu xanh vàng từ lá già chuyển dần vào lá non, khi gặp gió mạnh toàn bộ cây hay khóm dứa bị đổ ngả nghiêng. Cầm đầu lá kéo nhẹ toàn bộ cây hay khóm dứa bị bật lên khỏi mặt đất dễ dàng.

Sâu non tạo thành các đ­ường hầm xuyên ngang dọc trong đất vùng rễ cây, mật độ sâu non th­ường 1-4 con/gốc.

Bọ hung hại rễ cây dứa thích sống trên các đất có độ mùn cao tơi xốp, không hoặc ít sỏi đá. Các đất nhiều sỏi đá chai cứng hầu như­ chúng không sinh sống và gây hại. Bọ trưởng thành khi đẻ trứng th­ường tìm đến các v­ườn dứa xanh tốt để đẻ trứng, chúng rất ít đẻ trứng trên các v­ườn dứa mới trồng.

Trong quá trình sống và gây hại dứa một số sâu non bọ hung bị chết do nấm kí sinh Beauveria sp hay nấm Metarizium anisopliae.

3.2. Biện pháp phòng trừ

- Sau khi phá dứa phải làm đất kỹ và luân canh với cây trồng khác ít nhất 1 năm mới trồng dứa trở lại.

- Vào thời kì bọ trư­ởng thành vũ hóa, ban đêm tổ chức bắt bọ trư­ởng thành trên các cây dại ở bờ lô, hoặc phun thuốc Regent, Diazan, Oncol,... chiều mát lên các cây kí chủ phụ để đêm bọ trư­ởng thành lên ăn sẽ bị chết.

 Vào cuối tháng 4 và trong tháng 5 kiểm tra vư­ờn dứa nếu thấy có sâu non bọ hung gây hại phải dùng thuốc hoá học để diệt trừ. Các loại thuốc có thể sử dụng trừ sâu là Regent, Diazan, Oncol,... phun rải vào trong đất.

4. Bệnh thối nõn vi khuẩn (Pseudomonas ananas Bergey)

4.1. Triệu chứng và mức độ gây hại

- Bệnh thường bắt đầu từ tim hoa thị của cây, nguồn bệnh vào nõn cây có thể theo nguồn nước chảy tràn, nước mưa bắn vào trong nõn mang theo nguồn vi sinh vật gây bệnh.

- Cây bị bệnh màu sắc lá bị biến đổi từ xanh sang xanh vàng đầu lá xám héo, cầm các đầu lá rút nhẹ lá bị bệnh rời khỏi thân dễ dàng

- Cây bị bệnh thấp dần xuống do các chân lá non bị thối, rã dần ra.

- Đỉnh sinh trưởng của thân cũng bị thối nhũn ớt màu trắng bẩn.

- Giữa mô bị bệnh hại và mô chưa bị bệnh hại có viền ranh giới màu xám đen rõ rệt, vết thối có mùi thối khó chịu.

- Những cây đang mang quả cuống quả bị thối, quả gẫy gục.

- Những cây đã lớn bị bệnh làm thối đỉnh sinh trưởng, sau mùa bệnh từ gốc cây lại hình thành ra nhiều chồi mới, đến mùa bệnh năm sau các chồi này thường bị bệnh gây hại trước tiên.

4.2. Sự phát sinh, phát triễn của bệnh

- Bệnh xuất hiện gây hại trong điều kiện nhiệt độ không khí từ 15-22oC, ẩm độ không khí cao trên 80%, kèm theo mưa phùn và s­ương mù.

- Những v­ườn dứa bón phân không cân đối, nhất là bón nhiều phân đạm dễ bị nhiễm bệnh và bị bệnh gây hại nặng. Nếu bón phân N-P-K-Ca-Mg và phun bổ sung Bo, Zn dứa ít bị nhiễm bệnh và bệnh gây hại nhẹ.

- Bệnh thường gây hại nặng trên dứa trồng ở các khu vực hợp thuỷ, nơi có dòng nứơc chảy và dứa trồng phía chân đồi.

- Những vườn dứa dùng đất đèn xử lý ra hoa vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau dễ bị nhiễm bệnh và bệnh gây hại rất nặng; trong thời gian này nếu cần xử lý cho cây ra hoa nên dùng chất Ethrel.

- Nguồn bệnh có thể lưu truyền trên đồng ruộng trong đất trồng dứa đến 6 tháng và lưu từ năm này qua năm khác trên các phần thân chồi dứa chưa bị phân huỷ.

4.3. Biện pháp phòng trừ

- Khi làm đất trồng dứa cần phải làm kỹ, tiêu huỷ hết toàn bộ thân lá cây dứa chu kỳ trước, san phẳng bề mặt ruộng tránh tạo ra các khu hợp thuỷ, đọng nước khi mưa.

- Chồi giống dứa trồng chỉ được lấy ở các khu vực không bị bệnh gây hại, trước khi trồng cần được xử lí bằng ngâm trong dung dịch nước thuốc Aliette 80WP nồng độ 0,25-0,3% trong 10-15 phút.

- Chăm sóc vườn dứa sau trồng chu đáo, sạch cỏ dại, thông thoáng.

- Bón phân đầy đủ và cân đối N-P-K-Ca-Mg theo tỷ lệ 2:1:3:1:1 và bón bổ sung phân vi l­ượng Bo, Zn để nâng cao sức sinh trưởng và độ chống chịu của cây.

- Không dùng đất đèn xử lý cho cây ra hoa vào mùa bệnh gây hại.

- Kiểm tra vườn dứa thường xuyên từ tháng 11 trở đi đến hết mùa xuân, nếu phát hiện thấy bệnh dùng thuốc Aliette 80WP, pha nồng độ 0,4 % phun với lượng 1.000 lít dung dịch thuốc/ha.

5. Bệnh thối nõn do nấm (Phytophthora nicotiana var parasitica)

5.1. Triệu chứng và mức độ gây hại

- Bệnh thường gây hại trên cây dứa nhỏ sau khi trồng ít ngày và trên dứa ở vào giai đoạn phân hoá hoa tự.

- Đầu tiên bệnh thường xâm nhập vào chân lá non (phần chưa diệp lục hoá) lá thứ 7 kể từ trong nõn ra (lá F7).

- Vết bệnh đầu tiên là chấm nhỏ màu nâu tối dạng giọt dầu. Vết bệnh lan rộng dần hết phần chân lá non, lan sang chân các lá khác và lan xuống thân gây thối thân cây.

- Do phần chân lá bị thối nên lá biểu hiện héo, chuyển từ màu xanh sang màu vàng đỏ và đầu lá bị khô.

- Phần chân lá và thân cây bị thối có màu trắng, viền vết bệnh có màu nâu đen.

- Vết thối có thể lan tới tận gốc làm cho cây dứa bị chết gây hiện tượng mất khoảng trên vườn dứa.

- Rễ cây bị bệnh cũng bị hại, số lượng rễ còn ít, một số rễ bị thối mục chỉ còn lõi gỗ bên trong.

- Những cây dứa đang phân hoá hoặc tượng hoa rất dễ bị nhiễm bệnh, khi nhiễm bệnh hoa tự thối khô có màu nâu, cuống hoa tự gẫy gục, chưa phát hiện thấy bệnh gây hại trên các cây đang mang quả đến lúc quả chín.

5.2. Sự phát sinh, phát triễn của bệnh

- Hàng năm bệnh xuất hiện gây hại từ tháng 11, tháng 12 hàng năm đến tháng 3, tháng 4 năm sau.

- Bệnh xuất hiện gây hại trong điều kiện nhiệt độ không khí trung bình 18-22o C, ẩm độ không khí cao >85%.

- Bệnh xâm nhiễm và gây hại dứa ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng nhưng thường gây hại nặng trên dứa sau khi trồng ít ngày và dứa đang phân hoá mầm hoa.

- Thời điểm này cây đang hồi phục hay đang tập trung sức cho phân hoá và ra hoa nên sức chống chịu yếu dễ bị nấm bệnh xâm nhiễm gây hại.

5.3. Biện pháp phòng trừ

- Khi làm đất trồng dứa cần phải làm kỹ, tiêu huỷ hết tất cả các tàn dư cây dứa cũ.

- Trước khi trồng dứa cần bón vôi bột từ 1.000-1.500 kg/ha để nâng độ pH đất trồng dứa.

- Chọn và lấy chồi giống ở các khu vực không bị bệnh, trước khi trồng chồi giống cần xử lý nhúng chồi giống trong dung dịch thuốc trừ nấm Aliette 80 WP nồng độ 0,25-0,3%.

- Thoát nước tốt cho vườn dứa không để đọng nước và không để nước chảy tràn trôi đất vào trong nõn cây.

- Chăm sóc bón phân đầy đủ cân đối phân khoáng đa lượng cho dứa và bón bổ sung các nguyên tố vi lượng như Bo và Zn.

- Khi bệnh xuất hiện gây hại khoảng 5% cây cần dùng thuốc trừ nấm Aliette 80 WP phun nồng độ 0,4% hoặc thuốc Ridomil Gold phun nồng độ 0,3 % với lượng phun 1.000 lít dung dịch thuốc/ha

6. Bệnh thối đen thân chồi và quả (Thielaviopsis paradoxa)

6.1. Triệu chứng và mức độ gây hại

- Trên thân chồi giống:

Bệnh gây thối đen thân chồi, nấm bệnh xâm nhập vào thân chồi dứa qua vết thương khi tách chồi và trong quá trình bảo quản, vận chuyển chồi giống từ nơi này qua nơi khác.

- Trên quả:

+ Nấm bệnh xâm nhập vào quả thời kỳ quả mới hình thành thông qua nhị hoa của quả đơn khô đi và thời kỳ quả chín thông qua vết thương do côn trùng, vết cắt khi thu hoạch quả hay do các nguyên nhân khác.

+ Nấm ăn sâu vào trong thịt quả gây thối từng đám hoặc toàn bộ quả làm cho quả nhũn mềm, chảy nước, các mô thịt quả rời rã ra từng phần, vết thối lúc đầu có màu nâu xám sau chuyển thành màu đen.

- Trên lá:

+ Nấm bệnh còn gây hại cả lá, nấm xâm nhập vào lá qua vết th­ương trên lá, vết bệnh có dạng hình tròn hoặc hơi tròn, đ­ường kính vết bệnh khoảng 0,5-1 cm, màu trắng nhờ, hơi lõm.

+ Trên lá thường có một vài vết đến vài chục vết, những vết bệnh nằm gần nhau liên kết lại thành vết lớn hơn có đường kính tới vài centimet.         

6.2. Sự phát sinh, phát triễn của bệnh

- Bệnh phát sinh gây hại trong các tháng thời tiết nóng oi bức, có mư­a nhiều ẩm độ cao.

- Thời gian này nếu tách chồi, bó chồi và xếp đống thân chồi bị thối hàng loạt.

- Quả thu hoạch gây xây sát và để dính đất, xếp đống thì chỉ sau 2-3 ngày sẽ thấy nhiều quả bị thối chảy nước.

- Cây dứa do gió mạnh hoặc m­ưa đá làm lá bị xây sát tổn thư­ơng, nấm bệnh xâm nhiễm gây hại làm lá có nhiều vết đốm trắng trên phiến lá.

- Các giống dứa có bản lá rộng, mỏng và mềm dễ bị nhiễm bệnh hơn các giống dứa có phiến lá nhỏ, dày và cứng.

6.3. Biện pháp phòng trừ

- Khi thu hái quả phải nhẹ nhàng tránh làm dập hoặc xây sát quả; không tổ chức thu hái quả vào những lúc mưa trong mùa hè; không để đất bám dính vào quả nhất là vào vết cắt trên cuống quả.

- Sau thu hoạch quả không nên để dứa thành các đống lớn, xếp và vận chuyển cần nhẹ nhàng, nhất là đối với quả dứa cayene.

- Đối với cây con chưa đem trồng ngay giữ nơi thoáng mát, khô ráo và nên dùng 1 trong các loại thuốc để xử lý bệnh trước khi đem trồng như: Alpine 80WP, Bavistin 50FL, COC 85WP.

7. Bệnh đốm xám (khô đầu lá) (Chalara paradoxa)

7.1. Triệu chứng và mức độ gây hại

- Bệnh phát sinh ở chóp lá bánh tẻ và lá già.

- Vết bệnh lúc đầu là đốm nhỏ màu nâu ở chóp lá, sau lan rộng vào phía trong tạo thành một mảng cháy khô màu xám, giữa vết bệnh và phần xanh còn lại của lá có đường ranh giới màu nâu rõ rệt.

- Trên vết bệnh có các chấm nhỏ màu đen là các ổ bào tử nấm. Bệnh nặng làm nhiều lá bị khô, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.

7.2. Sự phát sinh, phát triễn của bệnh

- Bệnh thường phát sinh gây hại trên cây dứa ít được chăm sóc, sinh trưởng kém, bị úng nước.

7.3. Biện pháp phòng trừ

- Chăm bón đầy đủ cho cây sinh trưởng tốt, không để ruộng bị úng nước.

- Cắt bỏ các phần lá bệnh. Không cần thiết phải phun thuốc.

8. Bệnh héo vàng đỏ lá dứa (do virus PMWaV- Pineapple mealybug wilt associated )

8.1. Triệu chứng và mức độ gây hại

- Bệnh xuất hiện đầu tiên ở tầng lá già (tầng lá A, B), sau đó chuyển dần vào tầng lá bên trong (tầng lá C, D) và cuối cùng là tầng lá non E và F.

- Lá cây bị bệnh biểu hiện mất nước chuyển màu từ xanh sang xanh xỉn và sang màu vàng ánh đỏ, hoặc không có ánh đỏ, lá bị uốn cong về mặt dưới và hai bên mép, sau cùng lá bị khô chết.

- Rễ cây bị thoái hoá, số lượng rễ còn lại ít, nhất là rễ cấp 2, rễ cấp 3.

- Diễn biến bệnh qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Trước hết là các lá già nhất đỏ dần lên, sau đó rìa lá cuốn lại phía mặt dưới và đầu lá cong xuống đất.

Giai đoạn 2: Lá không còn độ trương, chuyển qua màu hồng vàng, các đầu lá bắt đầu nhuốm màu nâu và khô dần.

Giai đoạn 3: Các lá trung gian, chủ yếu là lá D và lá E lần l­ượt cong xuống, mép lá vàng ra, phần lá còn lại chuyển qua màu hồng tía, đầu lá cuốn lại.

Giai đoạn 4: Lá ở giữa nõn vẫn thẳng đứng nhưng kém tr­ương, các đầu lá cuối cùng cũng cuốn lại và héo, màu sắc chung vẫn còn xanh nhưng có nhiều lốm đốm hồng.

- Nếu cây dứa bị nhiễm bệnh ở giai đoạn cây ra hoa, cây vẫn ra hoa, kết quả nhưng quả nhỏ, khi chín quả chuyển màu không đều, màu vỏ quả và thịt quả có màu vàng lợt, trong thịt quả có nhiều chỗ xốp  và nhiều vân vệt màu trắng, ăn rất chua.

- Những chồi sinh ra trên các cây bị bệnh thường rất nhỏ, lá ngắn, chồi cuống quả nhỏ và rụng sớm.

- Bệnh đã làm giảm từ 38-70% trọng lượng quả, giảm 20-25% hàm lượng nước, giảm từ 45-50% hàm lượng đường và làm tăng độ acid lên gấp 2 lần so với quả không bị bệnh.           

8.2. Sự phát sinh, phát triển của bệnh

- Mối quan hệ giữa bệnh và rệp sáp: Bệnh héo vàng đỏ lá dứa xuất hiện gây hại có liên quan chặt chẽ với mật độ rệp sáp hại dứa, những v­ườn dứa có mật độ rệp sáp hại cao có tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh cao.

- Các kết quả nghiên cứu đều xác nhận rệp sáp Dysmicoccus brevipes Cockerell là môi giới truyền bệnh héo vàng đỏ lá dứa.

- Kết quả lây bệnh qua rệp sáp cho thấy với 10 rệp sáp nhiễm bệnh/cây, sau 3,5 đến 4 tháng cây bị lây bệnh có triệu chứng bệnh xuất hiện.

- Theo dõi sự nhiễm bệnh trên các giống dứa trồng ở nước ta hiện nay cho thấy giống dứa Na Hoa, giống dứa Queen Alexandria, Queen Sugapare thuộc nhóm phụ Queen Classis bị nhiễm bệnh nặng nhất, tiếp đến là các giống Cayene trong nhóm Cayene, giống dứa Phú Thọ thuộc nhóm phụ Queen Natal ít bị nhiễm bệnh nhất.

8.3. Biện pháp phòng trừ

- Sau mỗi chu kỳ trồng dứa cần phải tiêu huỷ hết tàn dư cây dứa cũ trước khi trồng dứa trở lại.

- Chọn các giống dứa và chồi giống dứa ở các khu vực không bị bệnh để trồng.

- Tạo vành đai ngăn chặn kiến tha rệp sáp vào vườn dứa và diệt rệp sáp môi giới truyền bệnh trên vườn dứa.

- Trước khi trồng nên xử lý cây giống bằng cách nhúng gốc vào dung dịch thuốc Actara + Aliette trong 10-15 phút để trị nấm bệnh và rệp sáp.

- Vệ sinh vườn, tiêu hủy các cây có đặc điểm nhận biết nghi ngờ bị nhiễm bệnh.

- Sau mỗi chu kỳ cây dứa nên luân canh với cây trồng khác.

- Tích cực phòng trị rệp sáp.

- Nếu có điều kiện, chồi giống trước khi trồng có thể xử lý trong hơi nóng hay nước nóng 60oC trong thời gian 30 phút sẽ có tác dụng làm mất hoạt tính của virus gây bệnh.

Gửi bình luận

Vui lòng đợi ...