TỪ ĐIỂN

Tra theo từ điển:


LỊCH

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT PHÚ YÊN BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH VỀ THỰC HIỆN TÁI CƠ CẤU LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT VÀ BVTV

Phòng BVTV | 2055 lần xem | 1 Đính kèm | 0 bình luận

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Kế hoạch triển khai thực hiện tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Phú Yên theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được ban hành kèm theo Quyết định số 247/QĐ-SNN, ngày 19/4/2016 của Sở Nông nghiệp và PTNT, cụ thể một số nội dung sau đây:

1. Sửa đổi, bổ sung điểm a, khoản 2, Mục II như sau:

“a) Giai đoạn 2018-2020

- Giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt bình quân tăng 2,5-2,7%/năm, tăng 2,3 - 2,5%/năm trong giai đoạn 2021 – 2025; tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt chiếm khoảng 38% vào năm 2020 của tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thuỷ sản.

- Tỷ lệ ứng dụng cơ giới hóa khâu làm đất tăng từ 70% (năm 2015) lên 95%; khâu gieo trồng, chăm sóc từ 25% lên 70%, khâu thu hoạch từ 30% lên 70%, khâu chế biến từ 30% lên 80%.

- Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt bình quân đạt 80-110 triệu đồng”.

2. Sửa đổi, bổ sung điểm b, khoản 2, Mục II như sau:

“b) Tầm nhìn năm 2030

- Giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt bình quân tăng trên 2 - 2,2%/năm; tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt chiếm khoảng 35% vào năm 2030 của tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thuỷ sản.

- Tỷ lệ ứng dụng cơ giới hóa khâu làm đất trên 95%; khâu gieo trồng, chăm sóc từ 70% lên 90%, khâu thu hoạch từ 70% lên 90%, khâu chế biến từ 80% lên 90%.

- Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt đạt bình quân từ 120- 170 triệu đồng”.

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, Mục III như sau:

“1. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tập trung phát triển 06 loại cây trồng chính

Trong giai đoạn 2018 - 2020 và tầm nhìn 2030 vẫn xác định 03 cây trồng chủ lực có lợi thế để tập trung đầu tư tái cơ cấu theo hướng gia tăng giá trị, sản xuất tập trung, quy mô lớn và bền vững là cây lúa, cây mía và cây sắn. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển 03 cây trồng chính (cây ngô, rau các loại và hoa cây cảnh), tái cơ cấu một số cây trồng khác có tiềm năng, lợi thế như hồ tiêu, cao su, cây dược liệu".

4. Sửa đổi, bổ sung điểm a, khoản 1, Mục III như sau:

“a) Cây lúa

- Duy trì và sử dụng linh hoạt diện tích lúa 02 vụ chính khoảng 24 nghìn ha, năng suất lúa toàn tỉnh đạt 70,0 tạ/ha/vụ, sản lượng lúa 34 vạn tấn/năm trở lên. Diện tích sản xuất lúa tập trung tại 9 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Trong đó:

+ Diện tích gieo trồng sản xuất lúa giống 5.000 ha, chiếm 20,8% diện tích gieo trồng lúa; sản lượng lúa giống 60.000 tấn. Diện tích sản xuất tập trung tại các huyện Phú Hòa, Tây Hòa, Đông Hòa, Tuy An và thành phố Tuy Hòa.

+ Diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao 10.000 ha, chiếm 41,6% diện tích gieo trồng lúa; sản lượng 120.000 tấn. Dự kiến sản xuất tập trung tại các huyện Phú Hòa, Tây Hòa, Đông Hòa và thành phố Tuy Hòa.

- Nâng tỷ lệ sử dụng giống đạt tiêu chuẩn đạt khoảng 93% vào năm 2020 và đến năm 2030 đạt 100%.

- Nâng giá trị gạo cao gấp 1,5 lần so với năm 2015.

- Lợi nhuận nông dân trồng lúa đạt từ 30-60%, tổng thu 01 ha trồng lúa đạt trên 80 triệu đồng/năm.

- Bố trí cơ cấu giống cây trồng phù hợp, giống lúa chất lượng cao khoảng 40-50%, giống lúa năng suất cao khoảng 30% và 10% giống lúa đặc sản. Giảm mật độ gieo sạ; nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón; giảm tối đa sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; tăng cường thu gom tái sử dụng phụ phẩm rơm rạ, vỏ trấu,…để gia tăng giá trị.

- Vận động chuyển đổi diện tích canh tác lúa 01 vụ, đất lúa sản xuất kém hiệu quả sang các loại cây trồng chịu hạn, cây hàng năm khác hoặc chăn nuôi có giá trị cao hơn (601 ha năm 2018, 630 ha năm 2019, 644 ha năm 2020).

- Định hướng sản xuất lúa theo chuỗi giá trị: Quy hoạch, hình thành các vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung gắn với thu hút doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến gạo hàng hóa tại các địa phương; liên kết với các doanh nghiệp đầu tư sản xuất lúa theo chuỗi giá trị.Xây dựng vùng chuyên canh sản xuất lúa chất lượng cao: 10.000 ha năm 2020; năm 2025: 10.500 ha và năm 2030: 12.000 ha".  

5. Sửa đổi, bổ sung điểm c, khoản 1, Mục III như sau:

c) Cây sắn

Giảm và ổn định diện tích còn 11.000 ha. Duy trì quy hoạch vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột sắn trên địa bàn tỉnh đến 2020 là 11.000ha. Trong đó:

+ Nhà máy tinh bột sắn Đồng Xuân từ 6 nghìn ha giảm xuống còn 5 nghìn ha, năng suất bình quân 30 tấn/ha, công suất chế biến 500 tấn sắn củ tươi/ngày.

+ Nhà máy tinh bột sắn FOCOCEV là 6 nghìn ha, năng suất bình quân 30 tấn/ha, công suất chế biến 1.500 tấn sắn củ tươi/ngày.

- Sử dụng giống tốt, kháng sâu bệnh nguy hiểm và bố trí cơ câu giống ngắn ngày, trung ngày và dài ngày phù hợp, đồng thời kết hợp với luân canh, xen canh và rải vụ.

- Đầu tư xây dựng cánh đồng lớn, từng bước ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, đưa những giống sắn mới, có năng suất và hàm lượng tinh bột cao để bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh.

- Hoàn thiện sản xuất sắn nguyên liệu theo chuỗi giá trị:

+ Tập trung hình thành các vùng sản xuất sắn nguyên liệu tập trung, thâm canh cao, áp dụng cơ giới hóa đồng bộ và tưới nước tiết kiệm tại các địa phương gắn với  đầu tư hỗ trợ vốn của doanh nghiệp để mua sắm máy móc thiết bị cơ giới hóa và ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.

+ Xây dựng các vùng trồng sắn bền vững theo các hình thức thâm canh, xen canh và rải vụ, khoảng 4,5 nghìn ha, đạt năng suất 40-60 tấn/ha. Trong đó:

Nhà máy tinh bột sắn Đồng Xuân khoảng 1,5 nghìn ha, tại các xã Xuân Quang 1, Đa Lộc, TT. La Hai huyện Đồng Xuân; các xã Sơn Long, Sơn Định huyện Sơn Hòa.

Nhà máy tinh bột sắn FOCOCEV khoảng 2,5 nghìn ha, tập trung tại các xã Sơn Thành Đông, Sơn Thành Tây huyện Tây Hòa; xã Eatrol, Sơn Giang, Đức Bình Đông,... huyện Sông Hinh”.

6. Sửa đổi, bổ sung điểm d, khoản 1, Mục III như sau:

“d) Cây rau màu các loại

+ Cây đậu: Tăng diện tích gieo trồng lên 6.640 ha năm 2020; 7.900 ha năm 2025 và đạt 9.300 ha năm 2030. Trong đó, cây đậu phộng: khoảng 3.733 ha; cây đậu nành: khoảng 2.280 ha; cây họ đậu khác: khoảng 3.287 ha.

+ Cây rau: Tăng diện tích gieo trồng lên 9.840 ha năm 2020; 12.800 ha năm 2025 và khoảng 15.700 ha vào năm 2030. 

7. Sửa đổi, bổ sung điểm đ, khoản 1, Mục III như sau:

“đ)  Cây ngô

- Mở rộng tổng diện tích canh tác cây ngô đến năm 2020 tổng diện tích khoảng 7.000 ha, đến năm 2025 khoảng 8.000 ha và duy trì ổn dịnh đến năm 2030. Năng suất bình quân giai đoạn 2018 - 2020: 05 - 06 tấn/ha; giai đoạn 2021 - 2025: 07 - 08 tấn/ha; giai đoạn 2026 - 2030: 09 - 10 tấn/ha. Đẩy mạnh đầu tư và phát triển vùng sản xuất ngô sinh khối phục vụ nguyên liệu cho các trang trại bò sữa.

- Đầu tư xây dựng hình thành các vùng chuyên canh trồng ngô, chuyển đổi trồng ngô trên đất lúa kém hiệu quả, ứng dụng cơ giới hóa và liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ ngô”.

8. Bổ sung điểm g, khoản 1, Mục III như sau:

“g) Hoa cây cảnh

Phấn đấu đến năm 2030 diện tích khoảng 500 ha, trong đó: Thành phố Tuy Hòa: 200 ha; thị xã Sông Cầu: 50 ha; huyện Tuy An: 100 ha; khu vực ven thị trấn Phú Thứ, La Hai, Hai Riêng, Hòa Vinh, Hòa Hiệp Trung, Củng Sơn... và các điểm du lịch với diện tích 150 ha. Nghiên cứu phát triển mô hình trồng hoa công nghệ cao vào áp dụng trên địa bàn tỉnh. Kêu gọi đầu tư vùng chuyên canh trồng hoa cây cảnh áp dụng công nghệ cao tại khu vực phía Bắc thành phố Tuy Hòa - phía Nam huyện Tuy An”.

9. Sửa đổi, bổ sung điểm i, khoản 1, Mục III như sau:

“i) Cây cao su

Giảm và duy trì diện tích quy hoạch xuống còn 6.000 ha, tập trung ở Sông Hinh, Sơn Hoà, Đồng Xuân gắn với khai thác chế biến mủ cao su”.

10. Bổ sung điểm k, khoản 1, Mục III như sau:

“k) Một số cây trồng khác có tiềm năng

- Cây ăn quả: Phát triển và ổn định diện tích 4.350 ha, tập trung một số loại cây có khả năng phát triển và gắn với công nghiệp chế biến như: Cây dứa (Phú Hòa), dừa xiêm (Sông Cầu), dưa hấu (Sơn Hòa, Sông Hinh); mãng cầu dai (Phú Hòa) và một số cây khác như: Cam, sầu riêng, xoài, cây bơ giống mới, mít không hạt, đu đủ lai, măng tây, chanh không hạt, ca cao, gấc... (Tây Hòa, Sơn Hòa).

- Cây dược liệu: Mở rộng khoảng 1.000 ha, phát triển dược liệu dưới tán rừng và gắn với doanh nghiệp chế biến dược liệu.

- Phát triển những cây trồng mới: Nấm Vân chi, cây Chùm ngây, cây lá gai, cây Trôm, cây sung Magic, cây Magic-S, cây Phúc bồn tử, cây Vani…”

11. Sửa đổi, bổ sung điểm b, khoản 2, Mục III như sau:

b) Về kỹ thuật canh tác

- Áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, theo hướng hiện đại gắn với áp dụng cơ giới hóa đồng bộ vào các công đoạn sản xuất như làm đất, gieo hạt, chăm sóc, bón phân, thu hoạch và chế biến bảo quản, công nghệ sau thu hoạch.

- Phát triển kỹ thuật tưới nước Nông – Lộ – Phơi, kỹ thuật sản xuất SRI,...cho sản xuất lúa; kỹ thuật tưới nước tiết kiệm, tưới nhỏ giọt, phun mưa,... cho mía, sắn và các loại cây trồng khác.

- Nghiên cứu và xây dựng các mô hình tưới nước, bón phân,... tiết kiệm hiệu quả, phù hợp để làm cơ sở nhân rộng cho các loại cây trồng.

- Tăng cường đẩy mạnh áp dụng các quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP, GlobalGAP,...) để hình thành và phát triển các vùng lúa, rau, ... an toàn vệ sinh thực phẩm gắn với liên kết chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ để nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh phát triển bền vững; Phấn đấu đạt tỷ lệ giá trị nông sản được sản xuất theo các quy trình sản xuất tốt (GAP) hoặc tương đương trên 10% đến năm 2030”.

12. Sửa đổi, bổ sung khoản 5, Mục III như sau:

5. Nhân rộng mô hình tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, thu hút đầu tư và thực hiện đồng bộ các chính sách trong lĩnh vực trồng trọt, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn theo Quyết định 62/2013/QĐ-TTg và Thông tư 15/2014/TT-BNNPTNT. Phối hợp các đơn vị có liên quan nghiên cứu và thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp, có chế tài xử lý các trường hợp vi phạm hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản. Khuyến khích phát triển công ty cổ phần nông nghiệp, trong đó người nông dân là cổ đông. Tạo điều kiện để nông dân góp quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp; hỗ trợ hình thành nhóm, hội theo từng ngành hàng cụ thể.

- Thực hiện tốt công tác dự báo và thông tin thị trường nông sản; Thường xuyên tổ chức hội chợ triển lãm nông sản chất lượng cao, nông sản chủ lực, nông sản đặc sản của địa phương (theo mô hình mỗi xã một sản phẩm), tổ chức các hoạt động kết nối cung cầu, kết nối nhà sản xuất và nhà phân phối. Hỗ trợ đăng ký bảo hộ sản phẩm, bảo hộ chỉ dẫn địa lý, xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc hàng nông sản. Thúc đẩy công tác liên kết, hợp tác với các địa phương trong và ngoài nước.

- Triển khai thực hiện Nghị định 57/2018/NĐ-CP, ngày 17/4/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

- Tăng cường thu hút các doanh nhiệp đầu tư trong lĩnh vực trồng trọt, phát huy sức mạnh của việc liên kết trong sản xuất tạo ra mối liên kết mật thiết giữa các doanh nghiệp và nông dân để phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, xây dựng lòng tin giữa doanh nghiệp và nông dân. Đồng thời phát triển hệ thống HTX theo đúng nghĩa để giúp nông dân bao tiêu sản phẩm. Các huyện, thị xã, thành phố cần tích cực thể hiện rõ vai trò trong việc tái cơ cấu trồng trọt, chủ động năng động tìm và mời gọi nhiều danh nghiệp vào cùng đầu tư với nông dân để phát triển vùng sản xuất tại địa bàn quản lý.

- Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các mô hình tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp nói chung và lĩnh vực trồng trọt nói riêng (mô hình cánh đồng lớn) trong giai đoạn 2015-2017, để rút ra những bài học kinh nghiệm và định hướng phát triển trồng trọt trong giai đoạn tiếp theo.

- Đối với cây lúa, mía và sắn: Xây dựng, hình thành "cánh đồng lớn" với quy mô thửa ruộng phù hợp là điều kiện then chốt để áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, đầu tư thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Do vậy, xây dựng giao thông nội đồng gắn bờ vùng, bờ thửa với hệ thống điện, tưới - tiêu nội đồng, gắn hệ thống chế biến, bảo quản là rất cần thiết.

- Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển trồng trọt trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, đề xuất ban hành chính sách đặc thù khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là các nhà máy chế biến nông sản theo hướng chế biến sâu, đa dạng sản phẩm như chế biến lúa gạo và các sản phẩm phụ; chế biến đường và các sản phẩm sau đường (điện, cồn, phân vi sinh,…); chế biến tinh bột sắn và các sản phẩm tinh bột biến tính, thức ăn gia súc, etanol, đường ăn kiên,…

- Triển khai thực hiện đồng bộ, vận dụng tốt và đạt hiệu quả cáo các chính sách của Trung ương, của Tỉnh vào đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất trồng trọt. Đồng thời, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi bổ sung kịp thời những chính sách chưa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương”.

13. Sửa đổi, bổ sung điểm b, khoản 6, Mục III như sau:

b) Kiện toàn và tổ chức hệ thống quản lý nhà nước lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật:

- Đẩy mạnh thực hiện tốt chính sách thu hút trí thức trẻ, thu hút nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành nông nghiệp. Tổ chức đào tạo, tập huấn cho các bộ ngành nông nghiệp trong và ngoài nước. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với tạo việc làm.

- Tiếp tục kiện toàn tổ chức Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; thực hiện tốt Đề án sáp nhập các Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Trạm Chăn nuôi – Thú y, Trạm Khuyến nông cấp huyện thành một đơn vị sự nghiệp trực thuộc huyện, thực hiện chức năng dịch vụ nông nghiệp.

- Tổ chức đổi mới hình thức quản lý theo cơ chế tự chủ đối với Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng, trước mắt thực hiện thí điểm cho các Trạm, trại trực thuộc.

- Củng cố tổ chức Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư, kể cả các Trạm Khuyến nông nhằm tăng cường hiệu quả công tác khuyến nông đối với các nhiệm vụ đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, xây dựng mô hình và thực hiện nhiệm vụ tư vấn, định hướng thị trường tiêu thụ nông sản cho nông dân.

- Tăng cường, nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng vật tư nông nghiệp, thuốc BVTV, nông sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm. Bảo đảm nông sản phẩm đạt chất lượng, không còn ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và cộng đồng”.

14. Sửa đổi, bổ sung Phụ lục 1 như sau:

“Phụ lục 1: “Bảng phân công nhiệm vụ triển khai thực hiện kế hoạch tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật” được điều chỉnh bằng Phụ lục: “Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu trồng trọt và bảo vệ thực vật giai đoạn 2018 – 2020” kèm theo Quyết định này”.

Điều 2. Các nội dung khác giữ nguyên theo Kế hoạch đã được ban hành kèm Quyết định số 247/QĐ-SNN, ngày 19/4/2016 của Sở Nông nghiệp và PTNT.

Điều 3. Chánh Văn phòng Sở; Chánh Thanh tra Sở; Trưởng các Phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở; Thủ trưởng các cơ quan đơn vị liên quan trực thuộc Sở; Trưởng phòng Phòng Kinh tế/Nông nghiệp và PTNT các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.

Gửi bình luận

Vui lòng đợi ...