TỪ ĐIỂN

Tra theo từ điển:


LỊCH

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐIỀU TRA RẦY NÂU VÀ RẦY LƯNG TRẮNG HẠI LÚA

Phòng BVTV | 1925 lần xem | 1 Đính kèm | 0 bình luận

Theo Thông báo số 30/TB-BVTVMT ngày 27 tháng 7 năm 2017 của Trung tâm Bảo vệ thực vật miền Trung về việc thông báo tình dịch hại 7 ngày trong vùng; hiện nay đã ghi nhận rầy nâu (RN) và rầy lưng trắng (RLT) gây hại với diện tích nhiễm toàn vùng lên đến 1.603,6 ha mật độ 750 – 3.000 con/m2, cao 10.000 con/m2 (diện tích nhiễm nặng 44,4 ha) tập trung chủ yếu ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hoà…

Tại Phú Yên, qua công tác điều tra phát hiện, đã ghi nhận RN và RLT phát sinh gây hại ngoài đồng ruộng với 5ha bị nhiễm, mật độ 750-950 con/m2 tại huyện Đồng Xuân và Tuy An; trong đó có 1,15ha nhiễm nhẹ với mật độ 750–1.200 con/m2, cao khoảng 1.500con/m2; giai đoạn lúa đẻ nhánh – chín sữa, tập trung trên một số giống như: MT10, OM2695-2, Khang dân đột biến, ĐV 108, TBR1….

                                                                                                         

Thời gian tới, thời tiết có mây thay đổi, ngày nắng có gió nồm nhẹ, đêm mưa rải rác tạo môi trường ẩm độ cao trong ruộng lúa. Đây là những điều kiện rất thích hợp cho rầy nâu và rầy lưng trắng phát sinh và phát triển gây hại trên những ruộacsaj giống nhiễm và  bón phân thừa đạm. Nếu không có biện pháp tổ chức phòng trừ kịp thời thì rầy nâu và rầy lưng trắng sẽ phát triển mạnh, gây ra hiện tượng cháy rầy. Để quản lý rầy nâu và rầy lưng trắng nhằm hạn chế sự phát triển và gây hại làm ảnh hưởng đến năng suất lúa, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị các Phòng Nông nghiệp và PTNT/Kinh tế các huyện, thị xã, thành phố thực hiện một số biện pháp sau:

- Phối hợp với các Trạm Trồng trọt và BVTV, Khuyến nông tăng cường công tác điều tra, phát hiện RN-RLT và hướng dẫn thời điểm phòng trừ thích hợp cho từng địa bàn cụ thể.

- Nguyên tắc quản lý dịch hại theo IPM, tránh sử dụng thuốc BVTV không cần thiết vì dễ gây hiện tượng bộc phát rầy không kiểm soát được. Không phun thuốc trừ sâu sớm, chỉ phun khi thật cần thiết lúc rầy có xu thế phát triển mạnh.

- Chỉ đạo các địa phương sử dụng bẫy đèn để theo dõi số lượng rầy vào đèn, xác định thời điểm rầy ra rộ và hướng di chuyển của rầy để có biện pháp quản lý kịp thời và hợp lý.

- Hướng dẫn nông dân tích cực chăm sóc ruộng lúa, thường xuyên điều tra đồng ruộng, kịp thời phát hiện khi rầy nâu còn ở mật độ thấp để có biện pháp quản lý thích hợp.

- Khi mật độ rầy nâu trên đồng ruộng phát triển cao kết hợp các yếu tố thời tiết và cây trồng thuận lợi cho rầy nâu phát triển để quyết định việc phun thuốc. Khi xử lý thuốc trừ rầy nâu cần tuân theo nguyên tắc 4 đúng.

 Một số loại thuốc đặc hiệu đã được Viện BVTV khảo nghiệm có hiệu lực trừ rầy cao như:

+ Đối với rầy truởng thành: Nên sử dụng một số hoạt chất như: Dinotefuran (Oshin 20WP, Cyo super 200WP,…), Clothianidin (Dantotsu 16WSG,…),  Fenobucarb (Bassa 50EC, Jetan 50 EC, Hoppecin 50 EC,…), Pymetrozine (Chess,…),….

+ Đối với rầy non: Có thể sử dụng một số hoạt chất sau: Buprofezin (Applaud 10WP, Butyl 10WP,…), Dinotefuran (Oshin 20WP, Cyo super 200WP), Fenobucarb (Bassa 50EC, Jetan 50 EC, Hoppecin 50 EC,…)…

+ Đối với ruộng có mật độ rầy cao trên 8.000 con/m2, bao gồm nhiều lứa rầy (có cả rầy non và rầy trưởng thành) và nguy cơ cháy rầy cao thì có thể sử dụng kết hợp  Fenobucarb (Bassa 50EC, Jetan 50 EC, Hoppecin 50 EC,…) với Buprofezin (Applaud 10WP, Butyl 10WP,…) hoặc Clothianidin (Dantotsu 16WSG,…) hoặc Dinotefuran (Oshin 20WP, Cyo super 200WP) (Chú ý khi phối trộn cần bảo đảm đủ liều lượng của mỗi loại thuốc như khi sử dụng riêng rẽ)

Đề nghị Phòng Nông nghiệp và PTNT/Kinh tế các huyện, thị xã, thành phố phối hợp triển khai các nội dung trên để việc quản lý RN-RLT đạt kết quả cao, bảo vệ sản xuất cho người dân./.

Nơi nhận:

- Như trên;

- Sở NN-PTNT (BC);

- Trung tâm: KN, G&KTCT (PH)

- Các Trạm TT-BVTV;

- Lãnh đạo Chi cục;

- Lưu: VT, BVTV.

KT. CHI CỤC TRƯỞNG

PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG

(đã ký)

 

 

 

 

Đặng Văn Mạnh

Gửi bình luận

Vui lòng đợi ...